Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, biển đảo không chỉ là lớp giáp bảo vệ cương vực mà còn là nôi nuôi dưỡng nền văn minh sông nước của dân tộc Việt Nam. Trong dòng chảy của thế kỷ XXI, khi trọng tâm quyền lực và kinh tế toàn cầu đang dịch chuyển về phía đại dương, Biển Đông trở thành tâm điểm của những biến động địa chính trị phức tạp. Đối với Việt Nam, biển không còn đơn thuần là nguồn lợi thủy hải sản hay tài nguyên dầu khí, mà đã trở thành không gian chiến lược quyết định khả năng vươn mình của quốc gia. Việc nhận thức đúng đắn về các giá trị lịch sử, củng cố nền tảng pháp lý và khai phá tiềm năng kinh tế biển xanh chính là khóa để bảo vệ vẹn toàn chủ quyền và xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng trên bản đồ thế giới.

Ảnh chụp vệ tinh của đảo Trường Sa lớn thuộc cụm Trường Sa của quần đảo Trường Sa (Ảnh: Internet)
Tiếng vọng lịch sử và chủ quyền thiêng liêng trên biển đảo
Lịch sử biển đảo Việt Nam không bắt đầu từ những tuyên bố lý thuyết, mà khởi đầu từ những hải trình đẫm mồ hôi và cả máu của cha ông giữa trùng khơi sóng dữ để xác lập quyền làm chủ thiêng liêng đối với cương vực tổ tiên. Ngay từ thế kỷ XVII, khi các khái niệm về biên giới biển còn khá sơ khai trên bình diện quốc tế, các triều đại phong kiến Việt Nam đã thể hiện một tư duy quản trị vượt thời đại. Theo tác phẩm Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn, triều đình đã duy trì Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải như những cơ quan chuyên trách thực thi quyền lực nhà nước tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây chính là những viên gạch đầu tiên xây dựng nên nền móng chủ quyền vững chắc, được kế thừa liên tục qua nhiều triều đại.
Tính chính nghĩa của Việt Nam được củng cố bằng những bằng chứng thực tế được ghi chép trong bộ chính sử Đại Nam thực lục. Đối với việc thực thi chủ quyền tại hai quần đảo này, tài liệu khẳng định:
“Vua Minh Mạng cử quân lính và thợ vẽ ra Hoàng Sa, Trường Sa để cắm cột mốc, xây miếu thờ và trồng cây nhằm tạo dấu hiệu nhận biết cho các phương tiện hàng hải. Hành động này không chỉ đơn thuần là thám hiểm mà là sự chiếm hữu thực tế, minh chứng cho chủ quyền của triều đình đối với các hòn đảo giữa Biển Đông. Triều đình cũng ban hành các sắc chỉ yêu cầu các đội tàu thực thi nhiệm vụ đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ chi tiết từng hòn đảo để đưa vào hệ thống quản trị hành chính của quốc gia, đảm bảo tính liên tục và hòa bình trong việc xác lập chủ quyền dân tộc qua nhiều đời vua.” [6]
Hàng năm, từ tháng Giêng đến tháng Sáu, những người lính đội Hoàng Sa xuất phát trên những chiếc ghe bầu nhỏ, đối mặt với gió bão để đo đạc và vẽ bản đồ. Sự hiện diện đó mang đậm tính dân sự hòa bình, phù hợp tuyệt đối với nguyên tắc chiếm hữu thật sự của luật pháp quốc tế cổ đại, khẳng định quyền làm chủ vĩnh viễn và không thể tranh cãi của dân tộc Việt Nam đối với những vùng biển đảo này.
Lá chắn pháp lý trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu
Trong thế kỷ XXI, cuộc đấu tranh bảo vệ biển đảo đã chuyển mình sang mặt trận pháp lý minh bạch. Việt Nam đã chọn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 làm nền tảng cho mọi tuyên bố và hành động của mình. Đây không chỉ là sự tuân thủ luật pháp quốc tế mà còn là cách thức quốc tế hóa chủ quyền chính nghĩa của dân tộc. Theo Công ước này, Việt Nam có quyền xác lập vùng đặc quyền kinh tế rộng tới 200 hải lý và thềm lục địa kéo dài, tạo ra một không gian biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán rộng hơn 1 triệu km2.
Để hiện thực hóa những quyền lợi này, Luật Biển Việt Nam năm 2012 đã nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế, khẳng định rõ ràng phạm vi các vùng biển và quần đảo thuộc chủ quyền quốc gia. Kết hợp cùng Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019, chúng ta đã xây dựng được một thế trận quốc phòng toàn dân trên biển với tinh thần hòa bình nhưng kiên quyết. Chính sách "4 không" của Việt Nam không chỉ là lời cam kết an ninh khu vực mà còn là thông điệp về một dân tộc tôn trọng sự ổn định, lấy luật pháp làm trọng tài cho mọi tranh chấp, đồng thời kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trên biển.

Toàn cảnh mặt chính diện đảo Trường Sa lớn (Ảnh: Internet)
Kinh tế biển xanh: Động lực đưa dân tộc vươn mình
Theo Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, kinh tế biển đã trở thành một phần cốt lõi của an ninh quốc gia. Chúng ta đang chuyển hướng mạnh mẽ sang kinh tế biển xanh, nơi số liệu thực tế cho thấy kinh tế biển hiện đóng góp khoảng 10% tổng sản phẩm quốc nội của cả nước. Bước sang giai đoạn chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Đảng ta đã đề ra mục tiêu đầy khát vọng là đưa đất nước bước vào "Kỷ nguyên vươn mình".
Theo báo cáo tại Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025: “Sau khi tiến hành sắp xếp hành chính, cả nước hiện có 21 trên tổng số 34 tỉnh ven biển và 23 trên tổng số 34 tỉnh có hệ thống cảng biển, tạo không gian phát triển liên vùng mạnh mẽ. Trong lĩnh vực thủy sản, chuyên gia đánh giá chỉ cần sử dụng 0,1% diện tích biển (khoảng 1.000 km^2) có thể đạt sản lượng 10 triệu tấn cá/năm. Về năng lượng, Việt Nam sở hữu tiềm năng điện gió ngoài khơi lên đến 600 GW, với mục tiêu đạt 6-17 GW vào năm 2030-2035. Ngoài ra, mô hình "Ngân hàng đại dương" có khả năng hấp thụ 18 triệu tấn CO2/năm cũng được đề xuất. Các đại biểu thống nhất cần thúc đẩy hạ tầng logistics, công nghệ AI và hợp tác quốc tế để đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển. Việc hoàn thiện chính sách "kinh tế biển xanh" là nhiệm vụ chiến lược, kết hợp giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.” [10]
Mục tiêu chiến lược đến năm 2030 là kinh tế của 21 tỉnh, thành phố ven biển này sẽ chiếm tới 65-70% tổng sản phẩm quốc nội toàn quốc. Việc hoàn thiện chính sách kinh tế biển xanh hiện nay không chỉ là nhiệm vụ kinh tế đơn thuần mà còn là nhiệm vụ chiến lược quốc phòng, đảm bảo bảo vệ lợi ích dân tộc từ sớm, từ xa.
Quan điểm xuyên suốt về xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo
Quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là "kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ". Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII và đặc biệt là dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, quan điểm này đã được nâng tầm thành một chiến lược tổng thể về quản trị biển hiện đại. Việt Nam kiên định nguyên tắc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhưng đồng thời khẳng định không bao giờ nhân nhượng trước những vấn đề thuộc về nguyên tắc cốt lõi là chủ quyền và quyền lợi quốc gia chân chính.

Bảo vệ chủ quyền biển đảo và quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân Việt Nam
Chiến lược bảo vệ biển đảo trong kỷ nguyên vươn mình tập trung vào sức mạnh nội sinh. Đảng ta xác định bảo vệ chủ quyền biển đảo phải gắn liền với xây dựng thực lực quốc gia mạnh, trong đó kinh tế biển là mũi nhọn, quốc phòng biển là trụ cột. Dự thảo văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh việc chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa thông qua việc tăng cường lòng tin chiến lược với các quốc gia và thúc đẩy hợp tác đa phương bền vững. Quan điểm này thể hiện tư duy nhạy bén trước biến động địa chính trị, lấy hòa bình làm môi trường phát triển, lấy luật pháp làm công cụ bảo vệ và lấy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân làm lá chắn vững chắc nhất.
Thế trận quốc phòng toàn dân và phòng thủ từ đại dương
Quá trình vươn mình ra biển lớn gắn liền với tư duy "giữ nước từ khi nước chưa nguy". Biển trở thành địa bàn trực tiếp để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên biển vững chắc. Việc phát triển kinh tế biển mạnh chính là tạo ra nguồn lực vật chất để đầu tư cho các lực lượng chuyên trách như Hải quân, Cảnh sát biển theo hướng hiện đại, tinh nhuệ.
Đặc biệt, quá trình "dân sự hóa" các vùng biển thông qua các hoạt động kinh tế bền vững đã hình thành nên những "pháo đài di động". Mỗi tàu cá là một cột mốc chủ quyền, tạo thành mạng lưới giám sát dày đặc. Sự phối hợp hiệp đồng giữa lực lượng vũ trang và nhân dân ven biển đã tạo ra một "lá chắn thép" đa tầng, đa lớp. Đây chính là nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới: lấy sức mạnh kinh tế để củng cố thực lực quốc phòng, và lấy một nền quốc phòng vững mạnh để làm điểm tựa cho kinh tế biển cất cánh.
Trường Sa và lời thề giữ vững biển mẹ
Trường Sa là trái tim của biển đảo Việt Nam. Sự hiện diện của quân và dân tại đây là bằng chứng dân sự cho quyền quản trị của Việt Nam. Hệ thống hậu cần nghề cá, các khu bảo tồn và trạm nghiên cứu khoa học tại Trường Sa không chỉ phục vụ dân sinh mà còn thực thi trách nhiệm quốc tế về bảo vệ môi trường đại dương.

Chiến sĩ Hải Quân thực hiện nhiệm vụ tại khu vực đảo Song Tử Tây (Ảnh: An Hiếu)
Theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, bảo vệ chủ quyền biển đảo là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền lợi của mỗi công dân. Dự thảo văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh đầu tư hạ tầng đa mục tiêu tại các đảo chiến lược như Trường Sa, Phú Quý, Côn Đảo nhằm tạo thế trận phòng thủ vững chắc từ xa. Xu thế "vạn vật kết nối trên biển" và quản trị thông minh thông qua dữ liệu lớn giúp tối ưu hóa công tác giám sát chủ quyền và cứu hộ cứu nạn. Chúng ta bảo vệ biển bằng sự hiện diện bền bỉ và tình yêu hòa bình, đảm bảo biển luôn là không gian sinh tồn an toàn cho các thế hệ mai sau.
Kiến nghị
Để thực sự đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển trong kỷ nguyên vươn mình, hệ thống chính sách quốc gia cần có những bước đột phá mạnh mẽ và đồng bộ trên nhiều phương diện. Trước hết, cần khẩn trương hoàn thiện quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo lập cơ chế điều phối liên kết vùng chặt chẽ giữa 21 tỉnh ven biển nhằm tối ưu hóa hệ sinh thái logistics và mạng lưới cảng biển nước sâu, tránh tình trạng đầu tư dàn trải. Song song với đó, Nhà nước cần ban hành khung pháp lý ưu tiên cho các lĩnh vực kinh tế mới như điện gió ngoài khơi và thí điểm mô hình "Ngân hàng đại dương" để chủ động thu hút nguồn tín dụng xanh quốc tế, gắn liền với chuyển đổi số toàn diện trong quản trị tài nguyên biển. Đặc biệt, chiến lược bảo vệ chủ quyền phải được thực hiện thông qua việc hiện đại hóa đồng bộ các lực lượng chuyên trách như Hải quân và Cảnh sát biển, đồng thời đẩy mạnh ngoại giao pháp lý dựa trên tinh thần UNCLOS 1982. Cuối cùng, cần có chính sách hỗ trợ ngư dân chuyển đổi sang mô hình nuôi biển công nghệ cao, biến mỗi hoạt động kinh tế thuần túy trở thành một sự hiện diện dân sự vững chắc, tạo thế trận lòng dân kiên cố trên đại dương, đảm bảo lợi ích quốc gia luôn được bảo vệ từ sớm, từ xa.
Biển đảo là phần lãnh thổ không thể tách rời, là không gian sinh tồn chiến lược quyết định tương lai phát triển dân tộc. Theo đúng nội dung quy định trong Hiến pháp năm 2013, bảo vệ chủ quyền tại quần đảo Trường Sa và các vùng biển hợp pháp là trách nhiệm với tổ tiên và lời cam kết sinh tồn với thế hệ mai sau. Dưới ánh sáng của Nghị quyết 36-NQ/TW và tinh thần Đại hội XIV, Việt Nam đang vững vàng chuyển mình thành một quốc gia biển mạnh, lấy kinh tế bền vững và thượng tôn pháp luật quốc tế làm kim chỉ nam, góp phần tích cực vào trật tự hòa bình và thịnh vượng cho khu vực và thế giới.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018), Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Bộ Quốc phòng (2019), Sách trắng Quốc phòng Việt Nam.
3. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2012), Luật Biển Việt Nam (Luật số: 18/2012/QH13).
4. Liên hợp quốc (1982), Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển.
5. Lê Quý Đôn (1776), Phủ biên tạp lục.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục.
7. Tổng cục Thống kê (2024), Báo cáo kinh tế biển Việt Nam qua các giai đoạn.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Dự thảo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV.
9. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
10. Báo cáo Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025.
https://vanhoathoidai.vn/uploads/audio/2026/01/20/ban-ve-kinh-te-bien-va-phong-thu-tu-dai-duong-vuong-xuan-nguyen-vuong-xuan-nguyen-youtube-1768874451.mp3