Quảng cáo #38

Chuyển thăm Việt Nam đầu tiên của Fidel Castro

Ngày 12/9/1973, sau khi tham dự Hội nghị cấp cao lần thứ IV của Phong trào Không liên kết (NOAL), quá cảnh tại Irắc và Ấn Độ, Tổng Tư lệnh Fidel Castro đã đến Hà Nội. Dưới cái nắng trưa gay gắt, Fidel bước xuống cầu thang của chiếc máy bay IL-18 trong sự đón tiếp nồng hậu của các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Việt Nam và sự chào đón của các cháu thiếu nhi. Thủ đô Hà Nội bắt đầu các hoạt động chào mừng từ khá sớm. Chuyến thăm của Fidel đã khiến nhân dân của đất nước Việt Nam anh em không khỏi xúc động.

Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn; Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh; Thủ tướng Phạm Văn Đồng; Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước đón Chủ tịch Cuba Fidel Castro tại sân bay Gia Lâm, trưa 12/9/1973. Ảnh tư liệu

Ra đón Fidel tại sân bay có các đồng chí: Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam); Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Phạm Văn Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ cùng sự có mặt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Quốc phòng; Nguyễn Duy Trinh, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Lê Thanh Nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ. Có thể nói, hầu hết các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị đã tham gia lễ đón và thực tế cho thấy, rất ít nguyên thủ nước ngoài đến Việt Nam được đón tiếp bằng hình thức cao như vậy.

Sự đón tiếp nồng hậu, thắm tình đồng chí, anh em cùng những cái ôm thật chặt, thể hiện tình cảm thắm thiết giữa nhân dân hai nước Cuba và Việt Nam. Khi các cháu thiếu nhi đến tặng hoa, Fidel đã cúi xuống và hôn lên má một cháu thiếu nhi.

Sau lễ đón chính thức và tiếp xúc với một số người dân Việt Nam đang chờ đón ở sân bay, Tổng Tư lệnh Fidel đã lên chiếc xe mui trần, lần đầu tiên được sử dụng tại Việt Nam để đón nguyên thủ quốc gia nước ngoài. Tháp tùng Fidel có các đồng chí: Lê Duẩn, Trường Chinh và Phạm Văn Đồng, trong khi những người còn lại của Đoàn đại biểu cấp cao Cuba được bố trí đi trên những chiếc xe ô tô màu đen khác. Vừa về đến Nhà khách Chính phủ, Fidel được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đón tiếp cùng những lời chúc tốt đẹp gửi tới Fidel và Đoàn đại biểu cấp cao Cuba. Nhà lãnh đạo cao nhất Cuba khi đó đã không giấu được sự xúc động trước những tình cảm thắm thiết từ trước đến nay mà nhân dân Việt Nam luôn dành cho nhân dân Cuba, ông phát biểu: Việt Nam là tấm gương phi thường nhất về tinh thần cách mạng của một dân tộc. Đó là lý do tại sao chúng tôi đã đến đây từ Cuba, rất xa xôi về mặt địa lý, nhưng lại rất gần về tư tưởng và tình cảm.

Vào 6 giờ 30 phút cùng ngày, Fidel và Đoàn đại biểu cấp cao Cuba đã đến nghĩa trang Mai Dịch đặt vòng hoa tưởng nhớ các chiến sĩ đã ngã xuống trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc Việt Nam. Mỗi lần Tổng Tư lệnh Fidel di chuyển lại là một lý do để người dân Việt Nam tập trung trên đường phố để chào mừng đoàn. Sau đó, Fidel và Đoàn đại biểu cấp cao Cuba đã đến Phủ Chủ tịch dự tiệc chiêu đãi trọng thể do các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trì.

Ngày 12 tháng 9 năm đó, Fidel bày tỏ: Không quan trọng là chúng ta ở xa nhau và cũng không quan trọng là ở đó (Cuba) đang là ngày và ở đây (Việt Nam) đang là đêm. Điều này, đơn giản có nghĩa là tư tưởng cách mạng luôn sáng rọi và mặt trời luôn chiếu sáng cho Cách mạng Cuba và Cách mạng Việt Nam! Trước đây, hơn cả đường, những người Cuba đã sẵn sàng dâng hiến những điều lớn nhất, thậm chí là “cả máu của mình[1].

Hôm sau (ngày 13/9/1973), Tổng Tư lệnh Fidel đã đến thăm nơi ở của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay cạnh Phủ Chủ tịch. Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tháp tùng ông. Bất cứ ai từng đến nơi này và đã từng đọc về vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam đều có thể cảm nhận sự hiện diện của Người bên hàng dâm bụt cạnh nhà sàn và sự giản dị của từng vật dụng ở nơi Người từng sống.

Trong hành trình thăm khu di tích, Tổng Tư lệnh đã được các đồng chí lãnh đạo cấp cao Việt Nam trực tiếp kể về các hoạt động của vị lãnh tụ bất tử trong lòng nhân dân Việt Nam; giới thiệu về nơi họp của Bộ Chính trị ở tầng dưới của nhà sàn, đồng thời là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh hay tiếp khách. Sau đó, các đồng chí lãnh đạo Việt Nam đã đưa Fidel lên thăm tầng trên ngôi nhà sàn, là phòng ngủ và ban công nơi Người thường ngồi đọc sách.

Tiếp đó, Fidel được các đồng chí lãnh đạo Việt Nam đưa sang căn phòng nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh nghỉ ngơi và làm việc trong những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời. Căn phòng này được xây dựng vào những ngày đế quốc Mỹ dội bom ác liệt nhất vào Hà Nội. Trong phòng vẫn còn treo tấm bản đồ Đông Dương mà Người thường theo dõi diễn biến cuộc chiến đấu. Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể với Fidel, tấm bản đồ này phản ánh tình hình chiến sự vào đêm trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Đây là bản đồ của ba nước Đông Dương gồm Việt Nam, Lào và Campuchia và khi đó, đường mòn Hồ Chí Minh đang tiếp tục được xây dựng khẩn trương. Các đồng chí lãnh đạo Việt Nam cũng đã giới thiệu với Tổng Tư lệnh Fidel về chiếc giường mà vị lãnh tụ kính yêu của Việt Nam trút hơi thở cuối cùng.

Kết thúc chuyến tham quan, đoàn đại biểu cấp cao hai nước đã tiến hành hội đàm chính thức tại Phủ Chủ tịch.

Chiều tối ngày 13 tháng 9, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tháp tùng Tổng Tư lệnh Fidel đi thăm Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam trong hơn một giờ và tại đây, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gắn lên ngực áo Fidel chiếc huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên”. Trước đó, Fidel đã rất xúc động khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp bày tỏ mong muốn được trao tặng cho Fidel chiếc huy hiệu có ý nghĩa đặc biệt này. Fidel đã bày tỏ vinh dự khi được Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp giới thiệu về chiến dịch Điện Biên Phủ và khi Đại tướng kết thúc phần trình bày, Trung úy Phan Ngọc Quỳnh tiếp tục phần giới thiệu các chi tiết liên quan đến chiến dịch. Fidel chăm chú lắng nghe và theo các đồng chí đoàn đại biểu Cuba kể lại, ông đã đặt nhiều câu hỏi và dường như không bỏ sót bất cứ chi tiết nào khi nghe giới thiệu về chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” này.

Kết thúc buổi tham quan, hai nhà chiến lược vĩ đại ấy (Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng Tư lệnh Fidel) đã cùng di chuyển và đi chung trên một chiếc xe. Đó là giây phút có một không hai khi cùng một lúc, hai con người vĩ đại của hai dân tộc đang cùng sánh bước và chỉ tiếc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã không có mặt ở đó. Trong các phát biểu của mình, Tổng Tư lệnh Fidel luôn bày tỏ sự nuối tiếc vì không có cơ hội được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh trước năm 1969, tuy nhiên, ông đã may mắn được gặp một nhà lãnh đạo anh hùng khác của Việt Nam, đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Trong bài phát biểu của mình, Tổng Tư lệnh Fidel bày tỏ:

Thưa các đồng chí anh em Việt Nam thân mến,

Hai cuộc cách mạng của chúng ta, Cách mạng Việt Nam và Cách mạng Cuba, một ở Đông Nam Á và một ở Mỹ Latinh, là hai sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại và là những đóng góp to lớn cho sự nghiệp của phong trào cách mạng quốc tế.

(...) Chúng tôi đến mảnh đất anh hùng này với lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với dân tộc Việt Nam và chúng tôi lên đường trở về nước với lòng khâm phục còn sâu sắc hơn. Chúng tôi được cổ vũ, động viên trước những thắng lợi và tấm gương phi thường của Việt Nam. Chúng tôi vô cùng biết ơn về sự hiếu khách và tình cảm của các đồng chí. Chúng tôi chỉ tiếc một điều là đã không đến thăm Việt Nam trước ngày 03/9/1969 và không có vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mà chúng tôi vô cùng kính phục. Nhưng chúng tôi đã được bù đắp bởi chúng tôi đã được trực tiếp sang thăm, được gặp gỡ nhân dân Việt Nam, được tận mắt chứng kiến sự nghiệp, những lời dạy, hành động, sự giáo dục, tấm gương, chủ nghĩa anh hùng, sự giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm đượm trong mỗi người dân Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rất rõ những giá trị đạo đức của dân tộc Việt Nam và Người luôn tự hào về dân tộc mình. Chúng tôi, những người Cuba cách mạng, cũng như tất cả những người cách mạng trên thế giới đều cảm thấy tự hào về nhân dân Việt Nam.

Ngày 14/9/1973, vào lúc 11 giờ 15 phút, Fidel và Đoàn đại biểu cấp cao Cuba đã đến sân bay Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Từ sân bay, ông và đoàn rời đi Vĩnh Linh trên tuyến đường dài gần 50km với địa hình khá phức tạp do bị bom tàn phá. Đêm đó, Fidel nghỉ lại ở Vĩnh Linh.

Theo lời kể của chính đạo diễn nổi tiếng Cuba, Santiago Álvarez, rạng sáng hôm sau, ngày 15 tháng 9, Fidel cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng rời Vĩnh Linh trên 2 chiếc xe ô tô theo Quốc lộ 1 để băng qua sông Bến Hải bằng cầu phao. Đúng 5 giờ 30 phút, phái đoàn chính thức có mặt ở vùng giải phóng miền Nam Việt Nam, bờ nam sông Bến Hải. Khoảng 5 giờ 55 phút, đoàn đi qua Dốc Miếu, tiếp tục hành trình qua địa điểm Quán Ngang của huyện Gio Linh rồi vào Đông Hà, sau đó theo Quốc lộ 9 đến cao điểm 241 ở xã Cam Thành, huyện Cam Lộ vào lúc 7 giờ 15 phút. Khi đoàn đến nơi đã có rất đông các chiến sĩ giải phóng quân cũng như nhân dân Quảng Trị vui mừng chờ đón đoàn.

Những thời khắc đó rất đặc biệt đối với Fidel bởi ông vừa hiện thực hóa một mong ước đẹp đẽ là được đến những nơi bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhất, nơi hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam vĩ đại. Đây là một sự kiện hết sức quan trọng bởi ông là vị nguyên thủ nước ngoài đầu tiên và duy nhất đến thăm vùng mới giải phóng ở miền Nam Việt Nam.

Chúng tôi cảm nhận được thời khắc lịch sử, đó là những nhận xét của đạo diễn Santiago Álvarez, Giám đốc của Bản tin Thời sự Mỹ Latinh, người quay bộ phim tài liệu lịch sử mang tên “Bốn cây cầu”. Ý tưởng thú vị của bộ phim dựa trên con đèo gần Đông Hà, nơi có ba cây cầu bắc qua sông Cam Lộ. Cây cầu đầu tiên do người Pháp, đại diện cho chủ nghĩa thực dân xây dựng và đã bị phá hủy. Cây cầu thứ hai do người Mỹ, đại diện cho chủ nghĩa thực dân mới xây dựng và cũng đã bị phá hủy. Trong khi đó, cây cầu thứ ba là cây cầu do Việt Nam xây dựng mà vị lãnh tụ lịch sử Cuba đã đi qua, không to rộng nhưng mới. Và cây cầu thứ tư được Santiago gọi là cây cầu của sự đoàn kết. Đó là lý do cho tiêu đề của bộ phim.

Đi qua Đông Hà, thị trấn đã bị phá hủy gần hết, đoàn tiếp tục đi theo Quốc lộ 1, rồi Đường 9, rất nổi tiếng vì ở đó đã diễn ra trận Lam Sơn, nơi mà lực lượng được chuẩn bị kỹ càng nhất của ngụy quyền Sài Gòn đã phải tháo chạy trước sự truy kích của xe tăng quân giải phóng. Fidel đã đến thăm cao điểm 241, được người Mỹ gọi là Căn cứ Carol; đến thăm các hầm trú ẩn chính của căn cứ được xây dựng bằng các ống thép rất kiên cố. Sau đó, trên những phiến đá và trên những bộ quân phục rách nát của lính Mỹ nằm rải rác trên cao điểm 241, ông đã phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tiếp tục hành trình, khoảng gần 10 giờ sáng, Tổng Tư lệnh Fidel cùng Đoàn đại biểu cấp cao Cuba vào thăm trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; ăn trưa, nói chuyện với các chiến sĩ, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khoảng 12 giờ trưa 15/9/1973, Đoàn đại biểu cấp cao Cuba rời Cam Lộ đi theo hướng về Đông Hà rồi theo Quốc lộ 1 ra Dốc Miếu, dừng lại thăm địa điểm này. Đây là nơi Mỹ xây dựng hàng rào điện tử MacNamara. Đến 13 giờ 40 phút, đoàn rời đi và khoảng đầu giờ chiều cùng ngày, đoàn đã có mặt tại bờ nam sông Bến Hải.

Khoảng 14 giờ, khi đoàn dừng lại ở bờ bắc sông Bến Hải thì nhìn thấy 3 thanh thiếu niên xã Vĩnh Thành bị thương do trúng phải bom mìn, trong đó có một người bị thương nặng ở bụng1. Không một lời phàn nàn, Fidel đã chỉ thị cho bác sĩ riêng lập tức chăm sóc những người bị thương, đưa lên xe ô tô của bộ phận y tế đi theo phục vụ phái đoàn để các bác sĩ cấp cứu, truyền thuốc rồi chở đến bệnh viện ở khu vực Vĩnh Linh để phẫu thuật. Hai người còn lại, một bé gái bị thương ở mặt, mắt, và cổ; còn người con trai thì bị một vết thương nhẹ.

Đến 15 giờ cùng ngày, Đoàn đại biểu cấp cao Cuba rời mảnh đất Quảng Trị để đi ra tỉnh Quảng Bình. Sau khi về nước, Fidel vẫn thường hỏi thăm các thanh thiếu niên bị thương đã được đoàn kịp thời cấp cứu khi đó.

Ba mươi năm sau, vào năm 2003, nguyên Đại sứ Raúl Valdés Vivó đã có bài viết đăng trên báo Granma, nhớ về chuyến thăm đó:

(...) Trong bữa tiệc chia tay ở thủ đô New Delhi, Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi đã rơm rớm nước mắt báo cho Fidel biết tin buồn về cuộc đảo chính quân sự, lật đổ chính phủ cánh tả của Tổng thống Chilê, Salvador Allende và trong đoàn Cuba, đã có ý kiến đề nghị hoãn chuyến thăm Việt Nam. Tuy nhiên, Tổng Tư lệnh Fidel cho rằng dù vậy cũng không thay đổi được sự thật là trung tâm của cuộc đấu tranh chống đế quốc của thế giới là ở Việt Nam. Không hề hay biết về sự kiện bi thảm này ở Chilê nhưng khi được Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp thông tin về cuộc đảo chính, Đại sứ Cuba vẫn khẳng định, Fidel sẽ có mặt ở Việt Nam vào lúc bình minh, dù Đại sứ không nhận được thông tin trực tiếp từ Fidel. Điều này được kiểm chứng bằng việc hàng triệu người dân Việt Nam đã chào đón Fidel với niềm vui vô hạn vì thấy ở Fidel, một hiện thân của Bác Hồ.

Liên quan đến chuyến thăm của Fidel đến vùng mới giải phóng thuộc tỉnh Quảng Trị, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, lần đầu tiên trong sự nghiệp chính trị của mình, không đồng ý với ý kiến của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, ông đã thuyết phục được các đồng chí lãnh đạo chủ chốt là Lê Duẩn và Trường Chinh, bí mật chuẩn bị cho chuyến thăm tới vùng mới giải phóng theo nguyện vọng của Fidel. Thủ tướng đề nghị phải giữ bí mật và sẽ trực tiếp đi cùng Fidel. Trên tinh thần đó, Đại sứ Cuba đề nghị công bố việc Fidel sẽ đi thăm Hải Phòng, thăm hải cảng anh hùng nơi hai tàu Cuba đã từng neo đậu.

(...) Ngay khi Fidel kết thúc chuyến thăm tới vùng mới giải phóng thuộc tỉnh Quảng Trị và trở về Hà Nội, bí mật này đã được chính Tổng Tư lệnh tiết lộ tại buổi chiêu đãi tiễn đoàn ở Phủ Chủ tịch.

nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sống và làm việc. Tổng Tư lệnh Fidel bắt đầu bài phát biểu bằng việc thông báo rằng, ông và Đoàn đại biểu cấp cao Cuba vừa kết thúc chuyến thăm vùng mới giải phóng; ngay lập tức, từng tràng vỗ tay vang lên như sấm rền.

Và rồi bí mật này lại dẫn đến những bí mật khác, thậm chí còn lớn hơn, đó là cuộc họp giữa ba người. Theo yêu cầu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi trời còn nhá nhem, Fidel trong bộ đồ ngủ, đã có cuộc gặp, trao đổi với các nhà lãnh đạo Việt Nam. Theo tinh thần đó, Cuba sẵn sàng hỗ trợ chuyên gia cùng các thiết bị tham gia xây dựng, kết nối hàng nghìn khúc quanh co của con đường bí ẩn nhất trong lịch sử - Đường mòn Hồ Chí Minh - thành con đường vững chắc, nối liền ba quốc gia anh em Việt Nam - Lào - Campuchia, những vùng đất thậm chí con người chưa từng đặt chân tới tiến thẳng đến Sài Gòn, nơi ẩn náu của tên “Pinochet” Việt Nam.

Fidel nhất trí việc các thiết bị máy móc sẽ được mua ở Nhật Bản và được sử dụng để mở rừng và vượt qua các chướng ngại vật trong cuộc hành quân có sự tham gia của hàng nghìn người Việt Nam, mà kẻ thù không thể phát hiện ra. Và đúng như vậy, các chuyên gia hàng đầu của Cuba đã được cử đến thực địa, những người mà Nixon tin rằng chỉ là các thủy thủ của tàu chở dầu, hay các huấn luyện viên thể thao, bóng chày,...để trực tiếp hỗ trợ Việt Nam trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến.

Tất cả mọi việc đều được thực hiện theo tính toán. Đúng ngày đã định, những chiếc xe tăng xã hội chủ nghĩa mở đợt tấn công cuối cùng từ vùng giải phóng miền Nam - nơi mà vị Tổng Tư lệnh đã đến thăm, giương cao lá cờ bách chiến bách thắng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, tiến thẳng vào Sài Gòn.

Ngày 11/9/2018, nhân kỷ niệm 45 năm chuyến thăm của Fidel đến Việt Nam và thăm vùng mới giải phóng thuộc tỉnh Quảng Trị, nhà báo José Llamos Camejo đã có bài viết trên báo Thanh niên quật khởi (Juventud Rebelde), Cơ quan ngôn luận của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Cuba, như sau:

Những địa phương đó được coi là những địa điểm “hấp dẫn” nhất đối với bom đạn và pháo của Mỹ. Vào thời điểm quan trọng nhất của cuộc chiến, những kẻ xâm lược đã triển khai bốn sư đoàn tại các địa phương này, chúng thiết lập cái gọi là “hàng rào MacNamara”. Tình hình rất nguy hiểm. Trên thực tế, ban lãnh đạo Việt Nam đã cố gắng tránh để Fidel gặp nguy hiểm khi thăm những nơi này (...).

Ông Nguyễn Đình Bin, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, người từng làm phiên dịch cho Fidel trong hành trình căng thẳng đó, nhớ lại, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trước đó đã nói chuyện với lãnh tụ Cuba để bày tỏ quan điểm về vấn đề này: “Chúng tôi rất mong đồng chí thứ lỗi và hiểu cho chúng tôi, nhưng chúng tôi không thể đồng ý với yêu cầu của đồng chí; tình hình tại khu vực đó không phù hợp cho chuyến thăm của đồng chí”.

Ông Nguyễn Xuân Phong, một cán bộ của Bộ Ngoại giao Việt Nam, người cùng phiên dịch cho Lãnh tụ Fidel trong chuyến thăm Quảng Trị cho biết: Chúng tôi nhận thức rõ Fidel có ý nghĩa như thế nào với Cuba và với các phong trào giải phóng cũng như với Mỹ Latinh. Không nên mạo hiểm như vậy; thật đúng đắn và công bằng khi cố gắng thuyết phục Fidel không mạo hiểm như vậy.

Ông Nguyễn Đình Bin cho biết, tám tháng trước chuyến thăm của vị lãnh đạo cấp cao Cuba, Việt Nam và Mỹ đã ký Hiệp định Pari.

Tuy nhiên, những tên lính Mỹ vẫn ở đó, ngay ở miền Nam và rất gần; nếu chúng phát hiện ra sự hiện diện của Fidel ở đó... không, không...”, ông lắc lắc đầu trước quyết định táo bạo của vị Tổng Tư lệnh.

Trong một bài viết sau này của mình, Fidel đã nhắc lại sự lo lắng của các đồng chí lãnh đạo Việt Nam trước đề nghị đến thăm các vùng mới được giải phóng ở miền Nam Việt Nam của ông: “Các đồng chí lãnh đạo cấp cao Việt Nam sợ rằng tôi sẽ là nạn nhân của một cuộc phiêu lưu nếu quân Mỹ phát hiện ra sự hiện diện của tôi ở khu vực đó”.

(...) Có thể trong bối cảnh Việt Nam đang bị xâm lược thì cơ hội sẽ xuất hiện, tuy nhiên cũng rất khó nói. “Chúng tôi biết có mật thám trà trộn trong dân chúng”, Tư lệnh Nguyễn Minh Kỳ, trước đây từng là Bí thư Huyện ủy Cam Lộ, thành viên ban tổ chức chuyến thăm của Fidel tại Quảng Trị, thừa nhận.

(...) Cầm trên tay một vật nhỏ, trong đầu ngổn ngang các câu hỏi, Lê Vĩnh Quán đi đến gian bếp của nhà khách để chuẩn bị đón Fidel. Ông muốn tự mình kiểm tra từng món ăn chuẩn bị cho Fidel.

Ông Quán nhúng một vật nhỏ đang cầm trên tay vào thức ăn đã nấu chín. Nếu thực phẩm an toàn, nó sẽ có màu trắng; nếu nó đổi thành màu vàng tức là thức ăn có vấn đề. Cuối cùng, màu trắng đã chiếm ưu thế. “Rồi chúng tôi dọn thức ăn ra đĩa và tiếp tục chuẩn bị các suất ăn trưa khác”. Bữa trưa đã được các chuyên gia kiểm tra kỹ lưỡng như vậy, ông Quán nhớ lại.

Bốn mươi tư năm sau, trong khu nhà khách đón tiếp Lãnh tụ Fidel khi ông ở Đồng Hới, ông Lê Vĩnh Quán vẫn nhớ như in về chuyến thăm. Từng lối đi, cửa ra vào, đồ nội thất bằng gỗ trong ngôi nhà vẫn luôn được chăm sóc chu đáo.
Trên một chiếc bàn nhỏ, ảnh Tổng Tư lệnh Fidel được đặt ngay ngắn. “Tổng Tư lệnh Fidel đã nghỉ một đêm ở đây”, chị Thu Hà, hướng dẫn viên khu di tích lịch sử Quảng Bình giới thiệu. Ngay lập tức, ông Quán lên tiếng trước sự ngạc nhiên của người hướng dẫn viên. “Đấy là mọi người nghĩ như thế nhưng thực tế Fidel không nghỉ ở đây”, người cựu chiến binh khẳng định.

Cựu chiến binh Lê Vĩnh Quán cho biết, thực ra, Tổng Tư lệnh Fidel chỉ nghỉ trưa tại đây một lát. Ông Quán cho biết, buổi tối hôm trước, Fidel chỉ bước vào căn phòng “để đánh lạc hướng. Tôi đứng gác ngay ở cửa sổ này và qua tấm kính, tôi có thể thấy rõ bao súng lục của Người và sau đó, Người di chuyển đến một địa điểm khác. Thực ra cũng dễ hiểu, đây là để bảo đảm an ninh”.

Hôm nay nhân vật được tôi phỏng vấn mỉm cười khi nhớ lại sự kiện hôm đó. Nhưng trưa 14/9/1973, ở Đồng Hới, ông đang cẩn thận kiểm tra từng món ăn chuẩn bị cho vị Tổng Tư lệnh.

Ngay sau chuyến thăm Việt Nam vào tháng 9/1973, Fidel đã chính thức tuyên bố dành tặng Việt Nam 5 công trình quan trọng để giúp khắc phục hậu quả chiến tranh, bao gồm:

1. Khách sạn Thắng Lợi “Victoria” ở Thủ đô Hà Nội;

2. Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình với 500 giường bệnh;

3. 10 trại chăn nuôi bò sữa hiện đại tại Mộc Châu, Sơn La;

4. Trang trại chăn nuôi gia cầm giống (gà đẻ) tại Lương Mỹ, Hòa Bình;

5. Tuyến đường Xuân Mai - Sơn Tây (tỉnh Hòa Bình, Hà Tây cũ) dài 42km.

Công trình mất nhiều thời gian nhất là Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hới, được khởi công ngày 19/5/1974, đúng dịp kỷ niệm 84 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và được khánh thành vào năm 1981. Trong khi đó, khách sạn Thắng Lợi được hoàn thành vào tháng 7/1975, sau chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm đó./.


[1] Leon Enrique, Malanés (2016): “Fidel và những người con Quảng Trị”.

1 Chị Nguyễn Thị Hương, quê ở thôn Tây, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh khi tham gia hoạt động san lấp mặt bằng đường của Đoàn thanh niên địa phương đã cuốc vào một quả bom bi khiến nó phát nổ, vừa lúc đoàn xe của Tổng Tư lệnh Fidel và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đi qua. Tổng Tư lệnh Fidel đã cho dừng xe và chỉ thị nhanh chóng đưa chị Hương đến Bệnh viện A Vĩnh Linh cấp cứu. Các y, bác sĩ cũng nói rằng, khi biết chị Hương bị mất máu quá nhiều, một chiếc xe trong đoàn được lệnh quay ra Quảng Bình để đưa từ Bệnh viện Đồng Hới vào 10 chai máu để kịp thời truyền cho chị vượt qua cơn nguy kịch…

Vương Xuân Nguyên