Tiếng nói đanh thép của ông, dù vang lên ở đâu cũng luôn là điểm tựa tinh thần vững chắc, là vũ khí ngoại giao sắc bén bảo vệ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Qua những lời phát biểu, những bức điện mừng và những bài diễn văn tràn đầy nhiệt huyết, Fidel Castro không chỉ thể hiện một tình cảm anh em sâu sắc, mà còn bộc lộ một nhãn quan chiến lược thiên tài cùng một niềm tin sắt đá, không bao giờ lay chuyển vào sự thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Chủ tịch Fidel Castro phất cao lá cờ bách chiến, bách thắng lấp lánh huân chương của Đoàn Khe Sanh, Quân Giải phóng Trị Thiên - Huế tại Cao điểm 241, ngày 16/9/1973 (Ảnh: TTXVN)
Nhãn quan chiến lược về cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam
Nhìn lại lịch sử kháng chiến của nhân dân Việt Nam, lãnh tụ Fidel Castro không chỉ dừng lại ở sự đồng cảm, sẻ chia trước những hy sinh mất mát, mà ông đã dùng nhãn quan chính trị sắc bén của một nhà lý luận mác, xít để phân tích sâu sắc bản chất và nguồn gốc tạo nên sức mạnh bất bại của một dân tộc thuộc địa. Ngay từ những năm tháng cuộc chiến bước vào giai đoạn khốc liệt, Fidel đã nhận ra rằng Việt Nam là một trường hợp tiêu biểu cho sự trỗi dậy của ý chí độc lập tự chủ dưới sự dẫn dắt của một hệ tư tưởng đúng đắn. Ông thấu hiểu cái giá vô cùng đắt mà nhân dân Việt Nam phải trả cho nền tự do của mình.
Trong bài phát biểu đầu tiên thể hiện tình đoàn kết với Việt Nam ngày 02/12/1964 tại thủ đô La Habana, Fidel Castro nhận định: “Và cần phải nói rằng sự hy sinh là quan trọng. Cần phải hy sinh cho dù là rất đau đớn và tổn thương. Thật đau đớn khi các dân tộc phải trả một cái giá rất đắt như vậy; dân tộc này phải trả giá cao hơn dân tộc khác. Việt Nam là một trường hợp tiêu biểu. Những hy sinh to lớn của Việt Nam, trực tiếp đương đầu với đế quốc Mỹ và thực tế chúng đang thất bại nhưng vẫn lớn tiếng rêu rao theo cách nói của những kẻ lừa đảo, xâm lược nhằm kéo dài cuộc chiến tranh. Chúng đang đùa với lửa, với mục đích đê tiện và phi lý là duy trì ách thống trị của thực dân, đế quốc với nhân dân các nước1.”.
Tầm nhìn chiến lược của Fidel Castro được thể hiện rõ nét nhất qua cách ông lý giải về vai trò lãnh đạo của Đảng và tư tưởng thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc khơi nguồn sức mạnh toàn dân. Đối với Fidel, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã kết hợp một cách thiên tài cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và cuộc đấu tranh vì quyền lợi của quần chúng bị bọn phong kiến và giai cấp bóc lột áp bức. Trong bài phát biểu ngày 12/9/1973 tại Hà Nội, Fidel nhấn mạnh: “Sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự nghiệp giải phóng xã hội là hai điểm then chốt trong học thuyết của Người.”. Nhờ tiếp thu tư tưởng sáng ngời của Lênin và hiểu rõ tầm quan trọng lịch sử của cuộc Cách mạng tháng Mười vinh quang, Người đã tìm ra con đường đúng đắn cho các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức, bóc lột. Fidel đánh giá rất cao dự báo mang tính thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi phát biểu vào ngày 12/9/1973: “Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thấy rằng các dân tộc lạc hậu do sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân có thể có những bước nhảy vọt trong lịch sử và xây dựng nền kinh tế của mình theo con đường xã hội chủ nghĩa, không phải trải qua sự hy sinh và những nỗi kinh hoàng của chủ nghĩa tư bản2.”.
Bên cạnh đó, vị tổng tư lệnh Cuba luôn nhấn mạnh rằng sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam nằm ở sự tồn tại của một đảng tiên phong được rèn luyện trong lửa đỏ. Trong bài phát biểu ngày 26/3/1974 tại Quảng trường Cách mạng ở La Habana nhân chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Fidel khẳng định: “Hồ Chí Minh, người con trung thành của giai cấp công nhân, đã biết vận dụng những nguyên lý đó vào điều kiện của Việt Nam và việc đầu tiên mà Người thực hiện nhằm đưa cuộc đấu tranh giành độc lập tiến lên là thành lập một chính đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin để lãnh đạo nhân dân1.”. Ông kết luận: “Chính nhờ vậy mà nhân dân Việt Nam đã có được đội tiên phong của mình, một Đảng sáng suốt biết đoàn kết tất cả các lực lượng tiến bộ của nhân dân trong một mặt trận rộng rãi để đưa họ đến thắng lợi.”. Fidel đúc kết thành luận điểm chiến lược: “Một dân tộc đoàn kết, có sự lãnh đạo của một chính đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin và có lý luận cách mạng là một dân tộc không gì thắng nổi.”.
Mặt khác, Fidel Castro đã vận dụng quy luật quốc tế vô sản để chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới. Ông chỉ rõ trong bài phát biểu ngày 12/9/1973 tại Hà Nội: “Ngay từ đầu, Người đã hiểu rằng cách mạng Việt Nam là bộ phận của các lực lượng ấy. Chính Người đã dựa vào các lực lượng của phong trào cách mạng quốc tế và dựa vào sự đoàn kết của phong trào cách mạng ấy, vì nếu không có sự đoàn kết đó thì không một dân tộc nào có thể thắng được các lực lượng hùng mạnh của chủ nghĩa đế quốc trên thế giới ngày nay. Đây là một trong những bài học tuyệt vời khác mà Đảng Lao động Việt Nam và nhân dân Việt Nam đã chỉ ra cho tất cả các dân tộc cách mạng trên thế giới.”. Fidel đúc kết rằng cội nguồn làm nên đức tính kiên cường, lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh phi thường của người Việt Nam chính là sự thấu triệt khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với công lý xã hội. Lời kêu gọi kháng chiến cứu nước đã được Fidel trích dẫn lại đầy trân trọng tại La Habana ngày 26/3/1974: “Vì vậy, năm 1946, khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, Người đã kêu gọi: Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.”. Điều này chứng minh cho một chiến lược chiến tranh nhân dân toàn diện, nơi mà lòng yêu nước, tổ chức quần chúng và lẽ phải thay thế cho sự thiếu hụt về vũ khí hiện đại.
Niềm tin sắt đá vào thắng lợi tất yếu của nhân dân Việt Nam
Nếu như tầm nhìn chiến lược giúp Fidel Castro thấu suốt cội nguồn sức mạnh của Việt Nam, thì niềm tin sắt đá chính là ngọn hải đăng chỉ đường giúp ông luôn nhìn thấy ánh sáng chiến thắng ngay cả trong những thời khắc đen tối nhất của lịch sử. Suốt những năm tháng đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh, dội hàng triệu tấn bom đạn xuống hai miền Nam Bắc, tiếng nói của Fidel chưa bao giờ ngơi nghỉ trong việc khẳng định niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam. Vào ngày 02/12/1965, tại lễ tốt nghiệp của trường Đại học Sư phạm Makarenko, Fidel Castro đã dõng dạc tuyên bố trước quần chúng Cuba1: “Nhưng chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam và vào tình đoàn kết của phe xã hội chủ nghĩa. Trước mọi mối đe dọa, chúng ta xin khẳng định lại lập trường và cam kết của chúng ta trong việc giúp đỡ Việt Nam, giúp Việt Nam cả về con người và vũ khí.”. Ông khẳng định vững chắc rằng kẻ thù sẽ không bao giờ có thể đè bẹp được các cuộc cách mạng, và “những bài học khác nữa, như bài học phi thường mà bọn đế quốc đang được đón nhận ở Việt Nam, sẽ dạy cho chúng biết thế nào là sức mạnh của nhân dân.”.
Niềm tin của Fidel Castro không phải là một sự lạc quan mơ hồ, mà nó dựa trên sự phân tích khoa học về tương quan lực lượng và phẩm giá con người. Cũng trong bài phát biểu ngày 02/12/1965, ông chỉ ra rằng bọn đế quốc đã lâm vào ngõ cụt, tức là không còn lối thoát nào khác ngoài thất bại vì chúng đã sai lầm khi nghĩ có thể ỷ vào sức mạnh vũ khí để đè bẹp một dân tộc nhỏ bé. Vị tổng tư lệnh Cuba phân tích: “Bây giờ chúng mới nhận ra chúng đang đứng trước thực tế là nhân dân Việt Nam đông đảo hơn bọn đế quốc gấp bội vì tất cả những người cách mạng trên thế giới đang đứng về phía nhân dân Việt Nam; tất cả những người cách mạng, với tất cả phẩm giá và tất cả dũng khí, tất cả lẽ sống đều coi bọn đế quốc là kẻ thù.”. Ông khẳng định thế giới luôn bên cạnh Việt Nam: “Đó là lý do tại sao chúng ta tin tưởng vào chiến thắng của nhân dân Việt Nam trước mọi mối đe dọa của đế quốc, bởi vì đến nay, họ đã chịu đựng đủ rồi, nhưng người Việt Nam biết rằng họ không đơn độc, và rằng sẽ có ngày nếu họ nói: Hãy tình nguyện đến Việt Nam thì trên thế giới này sẽ có hàng trăm ngàn người, sẽ có hàng triệu người sẵn sàng!”.
Bước sang đầu năm 1966, tại lễ bế mạc hội nghị đoàn kết với nhân dân ba châu lục tổ chức tại thủ đô La Habana ngày 15/01/1966, vị tổng tư lệnh một lần nữa khẳng định niềm tin xán lạn trên diễn đàn quốc tế2: “Chủ nghĩa đế quốc nhất định sẽ bị đánh bại. Những ai đã chỉ ra bài học ấy? Chính các dân tộc đã cho chúng ta thấy như vậy. Trong thời đại ngày nay, trong số các dân tộc trên thế giới, nhân dân nước nào đã và đang chỉ ra cho chúng ta bài học phi thường nhất? Đó chính là nhân dân Việt Nam.”. Sự hung hăng mở rộng chiến tranh dội bom xuống Lào hay uy hiếp Campuchia không chứng minh sức mạnh của Mỹ, mà trái lại, chỉ thể hiện sự bất lực, sự tuyệt vọng của chúng. Fidel đã đưa ra dự báo đầy chính xác: “Và nếu ở đâu đó, chúng phải chịu thất bại nặng nề, thì đó chính là ở Đông Nam Á. Vì ở đó có thể hình thành một tương quan lực lượng vượt trội hơn hẳn so với đế quốc Mỹ. Vì lý do này, chúng ta không mảy my nghi ngờ việc chúng sẽ bị đánh bại, rằng chúng sẽ bị chính các dân tộc trong khu vực đó đè bẹp”.
Niềm tin này tiếp tục được thể hiện mạnh mẽ qua các bức điện gửi tới các nhà lãnh đạo Việt Nam. Trong bức điện tháng 10/1965 gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Fidel viết: “Nhân dịp này, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương chúng tôi, một lần nữa, tôi xin bày tỏ sự ủng hộ của chúng tôi đối với cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam chống sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, bảo vệ Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội. Trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, chúng tôi nhất định cố gắng hết sức mình ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của tất cả các dân tộc... Xin chúc các đồng chí giành được nhiều thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc1.”.
Sức mạnh niềm tin từ thực tế chiến trường trong các bài phát biểu tại Việt Nam
Niềm tin sắt đá của Fidel Castro đã được tôi luyện và chứng thực sinh động khi ông trực tiếp đặt chân lên mảnh đất Việt Nam anh hùng vào tháng 9 năm 1973. Trong bài phát biểu tại buổi chiêu đãi của Đảng và Chính phủ Việt Nam ngày 12/9/1973 tại Hà Nội, Fidel bày tỏ niềm khâm phục sâu sắc đối với khí phách của con người nơi đây: “Chúng tôi đến đất nước các đồng chí trong lòng dạt dào niềm trìu mến, lòng khâm phục, tinh thần anh em và tình đoàn kết khó có thể dùng lời mà nói lên được. Việt Nam là một tên gọi vô cùng thân thiết, vô cùng gần gũi đối với trái tim của mọi người Cuba. Việt Nam đối với chúng tôi là một tấm gương, một nguồn cổ vũ trong cuộc đấu tranh của chúng tôi.”. Ông khẳng định vị thế độc tôn của Việt Nam: “Không có một phong trào giải phóng dân tộc nào, không có một dân tộc nào từng đấu tranh để giành độc lập của mình mà đã phải tiến hành một cuộc đấu tranh lâu dài và anh hùng như nhân dân Việt Nam.”.
Niềm tin ấy càng trở nên đanh thép khi ông chứng kiến thực tế chiến trường tại Vĩnh Linh và vùng giải phóng Quảng Trị ngày 14/9/1973. Trải qua những cung đường đầy rẫy dấu tích chiến tranh, Fidel Castro chia sẻ tại Vĩnh Linh2: “Bởi vì, thật sự đáng kinh ngạc là nhân dân một nước nhỏ bé, nhân dân một nước nghèo khó như nhân dân Việt Nam lại đánh bại được một nước đế quốc mạnh nhất về công nghiệp, mạnh nhất về quân sự và mạnh nhất về kinh tế. Bởi vì rõ ràng rằng, sau bao năm xâm lược, bọn đế quốc đã bị đánh bại hoàn toàn và phải cút khỏi Việt Nam. Ai đã đánh bại chúng? Chính là những chiến sĩ anh hùng và dung dị mà chúng tôi đã thấy trên các nẻo đường.”. Ông khẳng định ý chí vĩ đại của toàn dân tộc: “Một dân tộc như vậy, một dân tộc thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước và tinh thần cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tôi luyện, một dân tộc đúng như mong ước và niềm tự hào của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một dân tộc bất khả chiến bại.”.
Đặc biệt, trong bài phát biểu lịch sử đầy xúc động trước quần chúng và các lực lượng vũ trang giải phóng tại cao điểm 241 ở Quảng Trị ngày 15/9/1973, đứng ngay trên căn cứ quân sự kiên cố vừa được quân ta giải phóng, Fidel dõng dạc tuyên bố trước thế giới3: “Các bạn đã dạy cho đế quốc Mỹ một bài học lớn. Chúng đã tự cho mình là mạnh hơn ai hết và không ai có thể đánh bại được chúng. Nhưng bây giờ một dân tộc nghèo khó như Việt Nam lại có thể đánh bại được chúng. Vấn đề là, một dân tộc anh hùng, một dân tộc quyết đấu tranh vì độc lập tự do của mình, một dân tộc dũng cảm và trọng danh dự, là một dân tộc bất khả chiến bại! Bọn đế quốc không phải là vô địch. Chính nhân dân Việt Nam mới là một dân tộc vô địch!”.
Cũng tại đây, ông đưa ra lời dự báo chiến lược chắc chắn về ngày toàn thắng của dân tộc Việt Nam: “Với Hiệp định Paris, Mỹ phải chấp nhận rút toàn bộ quân của chúng khỏi miền Nam Việt Nam. Đó là thắng lợi to lớn, thắng lợi thần kỳ của Việt Nam... Và thắng lợi cuối cùng giải phóng miền Nam Việt Nam, hòa bình thống nhất đất nước sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian.”. Khi ngắm nhìn ánh mặt trời bừng sáng từ chân trời phía đông Quảng Trị, Fidel tin tưởng vào công cuộc tái thiết vĩ đại: “Ngắm cảnh đồi núi điệp trùng, cảnh bình nguyên bừng sáng, chúng tôi thầm nghĩ, tương lai của Việt Nam sẽ rực rỡ, đẹp đẽ biết bao! Nhất định rồi, tương lai của Việt Nam sẽ xán lạn như ánh mặt trời chào đón chúng tôi hôm nay, và Việt Nam nhất định sẽ được xây dựng lại mười lần to đẹp hơn, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên liệu.”.
Trong buổi chiêu đãi ngày 16/9/1973 trước khi rời Việt Nam, Fidel Castro tổng kết lại chân lý của cuộc chiến bằng một niềm tự hào lớn lao: “Đế quốc Mỹ đã đến Việt Nam đầu ngẩng cao và đầy kiêu ngạo. Nhưng chúng đã phải cúi đầu cút khỏi Việt Nam với một tinh thần bạc nhược... Chính tinh thần đó, khí phách đó của những chiến sĩ cách mạng khiến chúng tôi tin tưởng, hoàn toàn và chắc chắn rằng sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa vì những quyền lợi thiêng liêng của nhân dân Việt Nam nhất định thắng.”.
Tầm nhìn chiến lược đối với công cuộc tái thiết và kiến thiết đất nước sau giai đoạn hòa bình
Tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Fidel Castro không chỉ giới hạn trong việc dự báo thắng lợi quân sự của Việt Nam mà còn mở rộng sang một chương mới của lịch sử, đó là giai đoạn khôi phục, xây dựng và phát triển đất nước sau chiến tranh. Ngay từ khi tiếng súng chưa hoàn toàn chấm dứt, khi chứng kiến những tàn phá khủng khiếp của hàng triệu hố bom rải khắp ruộng đồng Việt Nam, Fidel đã nhìn nhận công cuộc kiến thiết là một trận tuyến mới đòi hỏi những nỗ lực phi thường. Trải qua thực tế tại vùng đất lửa miền Trung năm 1973, ông thấu hiểu sâu sắc rằng nhân dân Việt Nam đã phải chịu đựng và hy sinh quá nhiều, do đó công cuộc tái thiết đất nước chính là một nhiệm vụ cấp bách và mang ý nghĩa sống còn.
Trong tầm nhìn định hướng tương lai của vị tổng tư lệnh Cuba, Việt Nam sau khi giành độc lập hoàn toàn không chỉ đơn thuần là khôi phục lại những gì đã mất, mà phải vươn lên thành một hình mẫu phát triển mới. Tại cuộc mít tinh ở La Habana năm 1974, Fidel Castro đã khẳng định niềm tin mạnh mẽ vào tiềm năng vĩ đại của đất nước và con người Việt Nam1: “Việt Nam có tất cả những thứ cần thiết để tái thiết đất nước. Việt Nam phải trở thành một pháo đài của chủ nghĩa xã hội, không những trong lĩnh vực chính trị, quân sự mà cả trong lĩnh vực kinh tế ở Đông Nam Á.”. Ông phân tích rõ ràng các thế mạnh nội tại của Việt Nam để phục vụ cho sự phát triển lâu dài: “Việt Nam là một dân tộc biết hy sinh quên mình và cần cù. Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú về đất, nước; giàu có về than; có nhiều khoáng sản và có thể làm cơ sở cho một nền công nghiệp năng lượng mạnh mẽ để phát triển ngành luyện kim và ngành hóa chất; nhưng ngoài ra, còn có một phần lớn đất đai Việt Nam chưa tiến hành thăm dò được các tài nguyên dưới mặt đất.”.
Tầm nhìn này của Fidel tiếp tục được khẳng định một cách rực rỡ và trang trọng trong các văn kiện, bức điện gửi tới các nhà lãnh đạo Việt Nam sau khi bước ngoặt hòa bình và thống nhất đất nước được hiện thực hóa. Ngày 30/6/1976, ngay sau khi Quốc hội chung cả nước thông qua việc thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, lãnh tụ Fidel Castro đã gửi thư chúc mừng tới Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, thể hiện niềm hân hoan tột cùng và dự báo về một tương lai xã hội chủ nghĩa phồn vinh1: “Trong những giây phút mà những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhân dân cần cù, khiêm tốn và kiên nhẫn của Người biến thành lực lượng vật chất, trong lúc mà tư tưởng đẹp đẽ của Người 'Không có gì quý hơn độc lập, tự do' đã biến thành hiện thực, toàn thể nhân dân chúng tôi xem sự vui sướng hân hoan đó của nhân dân Việt Nam anh hùng như của chính mình.”.
Trong bức thư lịch sử này, Fidel gửi gắm một niềm tin mãnh liệt rằng chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong khói lửa chiến tranh sẽ được nhân dân Việt Nam chuyển hóa một cách tài tình thành năng lượng sáng tạo trong lao động sản xuất: “Chúng tôi tin tưởng rằng, với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam và sự nỗ lực của bản thân nhân dân Việt Nam sẽ biến chủ nghĩa anh hùng trong chiến đấu thành thắng lợi trong sản xuất, và với sự ủng hộ của khối cộng đồng xã hội chủ nghĩa và các dân tộc trên thế giới, nhân dân Việt Nam sẽ đẩy mạnh quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã được Quốc hội chung cả nước thông qua.”. Ông khẳng định vị thế mới của Việt Nam sau hòa bình là “thành trì của sự nghiệp vĩ đại giải phóng dân tộc, xã hội, sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của các dân tộc”.
Dù thời gian trôi qua, bước vào thập niên 1980 với muôn vàn khó khăn thử thách của thời kỳ hậu chiến, tầm nhìn mang tính chiến lược và tình cảm thủy chung của vị lãnh tụ Cuba dành cho công cuộc phát triển của Việt Nam vẫn không hề phai nhạt. Nhân dịp kỷ niệm 53 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 03/02/1983, trong bức thư gửi Tổng Bí thư Lê Duẩn, Fidel một lần nữa khẳng định vị thế của Việt Nam trong dòng chảy lịch sử thế giới và tin tưởng vào đường lối kiến thiết đất nước của Đảng: “Nhân dịp này, tôi xin khẳng định lại với đồng chí tình đoàn kết kiên quyết và sự ủng hộ hoàn toàn của Đảng Cộng sản Cuba đối với đường lối chính trị đúng dắn và sáng suốt mà Đảng Cộng sản Việt Nam đang thực hiện2.”.
Đến tháng 12 năm 1985, trong bức điện mừng nhân kỷ niệm 25 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, Fidel tiếp tục bày tỏ sự tin tưởng vào sự gắn bó bền chặt giữa hai dân tộc trong giai đoạn hòa bình xây dựng đất nước: “Sự phát triển và tăng cường không ngừng của mối quan hệ trong suốt 25 năm qua là bằng chứng rõ nét của tình hữu nghị vững chắc, tình đoàn kết chiến đấu và sự hợp tác anh em giữa nhân dân hai nước chúng ta, gắn bó với nhau trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cùng dựa trên những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa Quốc tế vô sản1.”.
Sự kiên định trong tầm nhìn đối với một nước Việt Nam đổi mới và phát triển bền vững tiếp tục được thể hiện rõ nét qua bức điện ngày 03/12/1990 gửi Đảng và Nhà nước Việt Nam. Giữa bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp, Fidel Castro vẫn hướng về Việt Nam với những lời chúc tốt đẹp và niềm tin xán lạn vào tương lai phồn vinh của dân tộc anh em: “Xin chúc các đồng chí đạt được nhiều thành tích to lớn hơn nữa trong những nỗ lực nhằm đưa nhân dân Việt Nam anh hùng tới một tương lai tốt đẹp và phồn vinh.”. Những thông điệp mang tính chiến lược này chứng minh rằng, trong suy nghĩ của Fidel, Việt Nam không chỉ là biểu tượng của chiến thắng quân sự, mà còn là biểu tượng của sự vươn lên mạnh mẽ, tự lực tự cường trong hòa bình và phát triển kinh tế.
Tầm nhìn về vai trò thời đại của Việt Nam và hành động của Cuba
Dưới nhãn quan chiến lược mang tầm vóc toàn cầu, lãnh tụ Fidel Castro luôn đánh giá cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một cống hiến phi thường đối với phong trào cách mạng thế giới. Trong bài diễn văn ngày 03/6/1969 chào mừng Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thăm Cuba, Fidel khẳng định Việt Nam là tấm gương bất diệt cho nhân loại: “Hơn nữa, Việt Nam còn là một tấm gương, một sự cổ vũ, một minh chứng. Bất kể dân tộc nào đã sẵn sàng kháng cự và chiến đấu... giờ đây, qua kinh nghiệm của Việt Nam, chúng ta đều biết rằng không những chỉ có thể kháng cự, không những chỉ chiến đấu được cho đến khi hy sinh, mà còn có thể kháng cự và chiến đấu cho đến khi thắng lợi!”.
Fidel khẳng định nhân dân Việt Nam đã đổ máu của mình không chỉ để bảo vệ độc lập tự do cho riêng mình, mà còn bảo vệ sự bình yên cho các dân tộc khác, trong đó có nhân dân Cuba. Tại Quảng trường Cách mạng ngày 26/3/1974, ông nhấn mạnh: “Bằng cuộc đấu tranh anh hùng của mình, nhân dân Việt Nam đã cột chặt nanh vuốt của chủ nghĩa đế quốc và ngăn không cho chúng gây tội ác ở những nơi khác trên thế giới. Chúng ta, những người Cuba, có thể thấy rằng cùng với việc bọn đế quốc ngày càng bị sa lầy đến tận cổ ở Việt Nam, chúng đã phải giảm bớt những hoạt động khiêu khích ở căn cứ Guantanamo, giảm bớt những hoạt động tội ác và những hành động xâm lược chống Tổ quốc chúng ta. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng, những người Việt Nam không chỉ chiến đấu cho riêng mình. Họ đã chiến đấu cho tất cả các dân tộc trên thế giới, chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng của nhân loại, chiến đấu vì sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.”.
Tầm nhìn và niềm tin của Fidel Castro luôn được hiện thực hóa bằng những cam kết mang tính xương máu, biến tình đoàn kết chiến đấu thành một lực lượng vật chất to lớn và vững bền. Khẩu hiệu bất hủ “Vì nhân dân Việt Nam, chúng ta sẵn sàng hiến dâng không chỉ đường mà còn cả máu của mình, là thứ còn quý giá hơn rất nhiều so với đường!” vang lên ngày 02/01/1966 tại La Habana là minh chứng cao đẹp nhất cho tình nghĩa thủy chung đó. Khi chiến tranh khép lại, tầm nhìn chiến lược của Fidel Castro lập tức chuyển dịch từ nhiệm vụ sát cánh chiến đấu sang nhiệm vụ đồng hành đổ mồ hôi để tái thiết đất nước Việt Nam. Trong bài phát biểu ngày 26/3/1974, Fidel tuyên bố: “Nhưng, ngày nay Việt Nam đang làm nhiệm vụ kiến thiết lại đất nước. Và nếu trước đây, chúng ta đã sẵn sàng hiến dâng máu của mình thì ngày nay chúng ta cũng sẵn sàng đổ mồ hôi vì Việt Nam! Vì vậy, nhân dân Cuba, với khả năng của mình, sẽ giúp đỡ Việt Nam kiến thiết lại... Việt Nam phải được kiến thiết lại... Việt Nam phải trở thành một pháo đài của chủ nghĩa xã hội, không những trong lĩnh vực chính trị, quân sự mà cả trong lĩnh vực kinh tế ở Đông Nam Á.”.
Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, những lời phát biểu và tư tưởng của lãnh tụ Fidel Castro về Việt Nam vẫn vẹn nguyên giá trị thời đại sâu sắc. Đó không chỉ là minh chứng cho một tình bạn vĩ đại giữa hai quốc gia, mà còn là bài học sâu sắc về nhãn quan chiến lược của một vĩ nhân, người đã nhìn thấy trong vóc dáng của một dân tộc Việt Nam khiêm nhường, cần cù và dũng cảm hình ảnh của một biểu tượng bất khả chiến bại. Tầm nhìn chiến lược và niềm tin sắt đá của Fidel Castro đã hòa quyện cùng ý chí kiên cường của nhân dân Việt Nam, tạo nên một chương sử vàng chói lọi, đời đời bất diệt trong tâm khảm của những người cách mạng chân chính trên toàn thế giới./.
1 Cuba – Việt Nam: Hai dân tộc, một lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sư thật, 2023, Tr19
2 Bộ Ngoại giáo, 50 năm nhớ lại và suy ngẫm, Báo Thế giới và Việt Nam, số tháng 9 năm 2023, tr54
1 Cuba – Việt Nam: Hai dân tộc, một lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sư thật, 2023, Tr72-81
1 Cuba – Việt Nam: Hai dân tộc, một lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sư thật, 2023, Tr 22-23
2 Cuba – Việt Nam: Hai dân tộc, một lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sư thật, 2023), Tr 24-26
1 Lưu trữ Lịch sử của Trung ương Đảng – Địa chỉ bảo quản 82-01-1620
2 Bộ Ngoại giao, 50 năm nhớ lại và suy ngẫm, Báo Thế giới và Việt Nam, tháng 9 năm 2023, tr60-63
3 Bộ Ngoại giao, 50 năm nhớ lại và suy ngẫm, Báo Thế giới và Việt Nam, tháng 9/2023, tr72-79
1 Cuba – Việt Nam: Hai dân tộc, một lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sư thật, 2023, Tr72-81
1 Lưu trữ Lịch sử của Trung ương Đảng. Địa chỉ bảo quản: 82-01-1620
2 Lưu trữ Lịch sử của Trung ương Đảng. Địa chỉ bảo quản: 82-01-3677
1 Lưu trữ Bộ Ngoại giao Việt Nam