Tài liệu lịch sử đặc biệt do Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam ấn hành nhân dịp kỷ niệm 60 năm sự kiện trọng đại này đã phác họa trọn vẹn những nội dung cốt lõi, sâu sắc về chuyến thăm lịch sử của Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Chính phủ nước Cộng hòa Cuba đến Việt Nam vào cuối tháng 10 năm 1966. Đây không chỉ là khúc tráng ca về tình anh em giữa hai dân tộc tuy cách xa nhau nửa vòng Trái Đất nhưng chung một trái tim mà còn là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của khối đoàn kết cách mạng toàn cầu. Nhìn lại chặng đường 66 năm thiết lập và phát triển quan hệ ngoại giao (1960–2026), mối quan hệ đặc biệt ấy đã trở thành một biểu tượng mẫu mực của tình đoàn kết quốc tế trong sáng, keo sơn và bền chặt.
Nền tảng lịch sử và những bước tiến đầu tiên vun đắp tình hữu nghị đặc biệt
Vào ngày 29 tháng 10 năm 1966, giữa lúc nhân dân Việt Nam đang phải đối mặt với giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Chính phủ Cuba đã đặt chân đến Hà Nội. Đoàn do đồng chí Osvaldo Dorticós Torrado – Tổng thống nước Cộng hòa Cuba, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Cuba dẫn đầu. Cùng đi có Tư lệnh Raúl Castro Ruz – Bí thư thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ các Lực lượng vũ trang cách mạng Cuba; và Tư lệnh Sergio del Valle Jiménez – Thứ trưởng Bộ các Lực lượng vũ trang cách mạng. Sự hiện diện của đồng chí Raúl Castro Ruz cùng các đồng chí lãnh đạo cấp cao Cuba ngay tại chiến trường miền Bắc Việt Nam mang ý nghĩa chính trị vô cùng sâu sắc, khẳng định sự đồng cam cộng khổ của Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba đối với sự nghiệp cứu nước của nhân dân ta. Thành phần đoàn còn có sự tham gia của Tư lệnh Julio García Olivera – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cuba tại Việt Nam.
Sự đón tiếp nồng hậu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh, Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh đã thể hiện tình anh em gắn bó vượt lên trên mọi nghi thức ngoại giao thông thường. Đây được ghi nhận là đoàn đại biểu cấp cao đầu tiên của Cuba chính thức thăm viếng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử quan hệ song phương.
Mối quan hệ gắn bó ấy đã được hun đúc từ nhiều năm trước thông qua các hoạt động ngoại giao, văn hóa và giáo dục đầy nghĩa tình. Ngày 2 tháng 12 năm 1960, Cuba trở thành quốc gia đầu tiên ở Tây bán cầu chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp nối là sự ra đời của Đại sứ quán Việt Nam tại La Habana vào tháng 2 năm 1961 và Cơ quan đại diện ngoại giao Cuba tại Hà Nội vào tháng 7 năm 1962. Trong những năm đầu tiên, quan hệ song phương không ngừng phát triển thông qua các thỏa thuận trao đổi thương mại, hợp tác văn hóa, bưu chính và viễn thông. Trong lĩnh vực giáo dục, chuyến thăm Cuba của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám vào giữa năm 1961 đã mở đường cho các thế hệ sinh viên Việt Nam đầu tiên sang học tập tại các trường đại học Cuba vào tháng 1 cùng năm. Bên cạnh đó, năm 1964, Đoàn Ballet Quốc gia Cuba dưới sự dẫn dắt của nghệ sĩ lừng danh Alicia Alonso đã sang biểu diễn tại Hà Nội và vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất từ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Để vận động sự ủng hộ toàn cầu, tháng 9 năm 1963, Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam ra đời dưới sự chủ trì của nữ anh hùng Melba Hernández. Tiếp đó, tháng 1 năm 1965, Hội Hữu nghị Việt Nam – Cuba được thành lập tại Hà Nội, và cuối năm 1965, Cuba chính thức công nhận cơ quan đại diện ngoại giao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại La Habana. Sự ủng hộ dành cho Việt Nam được các nhà lãnh đạo Cuba khẳng định bằng những hành động và lời nói đanh thép trên trường quốc tế. Ngày 11 tháng 12 năm 1964, Ernesto Che Guevara đã dũng cảm lên án các tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ tại diễn đàn Liên hợp quốc. Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Lãnh tụ Fidel Castro, nhân dân Cuba luôn coi cuộc kháng chiến của Việt Nam như cuộc kháng chiến của chính mình.
Vào tháng 1 năm 1966 tại La Habana, trong khuôn khổ Hội nghị Đoàn kết Nhân dân Á – Phi – Latinh lần thứ nhất, Lãnh tụ Fidel Castro đã đưa ra lời tuyên bố bất hủ: "Vì Việt Nam, chúng ta sẵn sàng hiến dâng cả dòng máu của mình". Khẩu hiệu ấy dưới sự đồng lòng thực hiện của Lãnh tụ Fidel Castro và đồng chí Raúl Castro Ruz đã trở thành phương châm hành động, là biểu tượng thiêng liêng gắn kết ý chí của hai dân tộc trong suốt chặng đường lịch sử.
Tiếng nói đồng thuận và sự ủng hộ toàn diện qua các văn kiện chính nghĩa
Bản Thông cáo chung được ký kết ngày 31 tháng 10 năm 1966 giữa hai đoàn đại biểu đã phản ánh sự thống nhất sâu sắc trong mọi vấn đề chiến lược quốc tế. Hai bên khẳng định nguyên nhân trực tiếp của tình hình căng thẳng tại Việt Nam là do đế quốc Mỹ trắng trợn vi phạm Hiệp định Giơnevơ năm 1954, leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và áp dụng những vũ khí hủy diệt tàn bạo tại miền Nam.
Báo Nhân Dân số ra ngày 2 tháng 11 năm 1966 cũng đăng tải bài xã luận nhiệt liệt chào mừng những sứ giả của nhân dân Cuba anh hùng, nhấn mạnh rằng mặc dù xa cách về địa lý nhưng hai dân tộc luôn kề vai sát cánh ở tuyến đầu chống đế quốc Mỹ. Hai bên bác bỏ hoàn toàn các luận điệu "đàm phán hòa bình" mang tính bịp bợm của Mỹ tại Liên hợp quốc hay Hội nghị Manila, đồng thời khẳng định Liên hợp quốc hoàn toàn không có thẩm quyền can thiệp vào vấn đề nội bộ của Việt Nam.
Bên cạnh đó, hai bên cũng kiên quyết lên án chính sách can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ đối với Lào, yêu cầu Mỹ nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ năm 1962 về Lào, đồng thời phản đối mạnh mẽ các hành động đe dọa và khiêu khích Campuchia. Lập trường vãn hồi hòa bình được giữ vững kiên định thông qua tuyên bố chung rằng "Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, chấm dứt vĩnh viễn và không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, thì hòa bình sẽ trở lại tức khắc ở Việt Nam".
Phía Cuba dưới sự dẫn dắt của Lãnh tụ Fidel Castro tuyên bố ủng hộ hoàn toàn Tuyên bố ngày 17 tháng 7 năm 1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lập trường 4 điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tuyên bố 5 điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Phía Việt Nam cũng nhiệt liệt biểu dương những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội của Cuba và khẳng định ủng hộ 5 điểm chính nghĩa do Thủ tướng Fidel Castro nêu ra trong tuyên bố ngày 28 tháng 10 năm 1962.
Tư tưởng lớn lao, tình cảm thắm thiết và sức sống xuyên thes kỷ
Trong các cuộc gặp gỡ, tiếp đón và tiễn đoàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho những vị khách quý từ vùng biển Caribe sự đón tiếp nồng hậu. Người xúc động bày tỏ chân tình: "Việt Nam và Cuba cách xa nhau hàng vạn dặm, nhưng lòng nhân dân hai nước chúng ta thì rất gần gũi nhau như anh em một nhà.
Chúng tôi mong các đồng chí coi ở Việt Nam cũng như ở Cuba vậy". Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ niềm tự hào khi có chung chiến hào với nhân dân Cuba kiên cường dưới sự lãnh đạo của Lãnh tụ Fidel Castro và đồng chí Raúl Castro Ruz – quốc gia đã bảo vệ thành công lá cờ đầu của chủ nghĩa xã hội tại Tây bán cầu và đập tan âm mưu tại Bãi biển Girón. Khi tiễn đoàn, Người khẳng định chắc nịch: "Nhân dân Việt Nam luôn luôn là người anh em thân thiết của nhân dân Cuba trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ chủ quyền dân tộc, bảo vệ hoà bình trên thế giới và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Cuba". Đồng thời, Người gửi gắm tình cảm sâu lắng qua câu nói đầy yêu thương: "Tôi cũng gửi đến các cháu thanh niên và nhi đồng Cuba nhiều cái hôn của Bác Hồ. Hasta la vista".
Bên cạnh đó, Tổng thống Osvaldo Dorticós đã đưa ra một luận điểm mang tầm tư tưởng lớn tại tiệc chiêu đãi khi dũng dạc tuyên bố rằng: "Không nên nói đến sự giúp đỡ, mà phải nói đến sự đóng góp mà tất cả chúng ta đều có nghĩa vụ dành cho nhân dân Việt Nam". Tổng thống chỉ rõ chính nhân dân Việt Nam, bằng những hy sinh máu xương và tinh thần anh dũng nơi tuyến đầu, đang chiến đấu để bảo vệ cho toàn bộ phe xã hội chủ nghĩa và các dân tộc tiến bộ trên thế giới. Do đó, Tổng thống nhấn mạnh: "Đối với những người cộng sản trên khắp thế giới, chiến hào Việt Nam ngày nay chính là chiến hào quan trọng nhất".
Từ mối quan hệ sắt son được hun đúc trong những năm tháng gian khó ấy, từ chuyến thăm lịch sử của Đoàn đại biểu cấp cao Cuba tháng 10 năm 1966 cùng những cam kết ban đầu đầy nghĩa tình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lãnh tụ Fidel Castro đã trực tiếp là những người định hướng, chỉ đạo và vun đắp để tình cảm ấy trở thành một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, một biểu tượng mẫu mực của quan hệ quốc tế trong suốt 60 năm qua. Xuất phát từ nền tảng vững chắc đó, trong những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất, Cuba đã dành cho Việt Nam sự ủng hộ chí nghĩa, chí tình cả về vật chất lẫn tinh thần một cách hết sức thiết thực.
Đỉnh cao của tình cảm ấy là những chuyến thăm lịch sử của Lãnh tụ Fidel Castro đến vùng đất lửa Quảng Trị vào năm 1973 – vị nguyên thủ nước ngoài đầu tiên và duy nhất dũng cảm vượt tuyến 17 sang thăm vùng giải phóng miền Nam Việt Nam. Chuyến thăm cùng với những sự giúp đỡ vô giá về trang thiết bị, vật liệu xây dựng, cử chuyên gia, xây dựng các công trình chiến lược như Khách sạn Thắng Lợi, Bệnh viện Việt - Nam Cuba tại Đồng Hới, đường Xuân Mai, và đặc biệt là sự hỗ trợ đắc lực để mở rộng, củng cố hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh đã tiếp thêm nguồn sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn cho quân và dân ta hướng tới ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Không những thế, Cuba luôn là ngọn cờ đầu trên các diễn đàn song phương và đa phương quốc tế, kiên cường bênh vực, kêu gọi sự ủng hộ toàn cầu cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam.
Ngược lại, bước sang giai đoạn sau năm 1991, khi thế giới có nhiều biến động to lớn và Cuba phải bước vào thời kỳ "Đặc biệt" đầy gian khó với muôn vàn thiếu thốn do lệnh cấm vận siết chặt, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã luôn khắc ghi đạo lý "ăn quả nhớ kẻ trồng cây", trước sau như một kề vai sát cánh, hỗ trợ Cuba cả về vật chất lẫn tinh thần để vượt qua nghịch cảnh. Bước sang giai đoạn hiện nay, tình cảm đó được cụ thể hóa bằng các chương trình hợp tác toàn diện và thiết thực. Việt Nam luôn sát cánh hỗ trợ Cuba trong vấn đề an ninh lương thực thông qua việc duy trì, đẩy mạnh các dự án hợp tác sản xuất lúa gạo, ngô và phát triển nuôi trồng thủy sản, giúp Cuba tự chủ nguồn lương thực và ổn định đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, trong bối cảnh Cuba gặp nhiều khó khăn về năng lượng và cơ sở hạ tầng, hai nước cũng thúc đẩy hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực năng lượng, y tế, dược phẩm và chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội dựa trên những thế mạnh riêng của mỗi bên, qua đó tô thắm thêm tình nghĩa anh em khăng khít, sắt son.
Sự thủy chung ấy tiếp tục được thăng hoa và tỏa sáng mạnh mẽ trong đời sống quốc tế đương đại. Trong hai ngày 27 và 28-10-2026 tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York, Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 đã tiến hành phiên thảo luận thường niên về đề mục "Sự cần thiết phải chấm dứt cấm vận kinh tế, thương mại và tài chính của Mỹ đối với Cuba". Phát biểu tại phiên họp, Công sứ Nguyễn Hải Lưu - Phó trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, đã tái khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam ủng hộ việc chấm dứt ngay lập tức, hoàn toàn và vô điều kiện các biện pháp cấm vận kinh tế, thương mại và tài chính của Mỹ đối với Cuba, bao gồm các biện pháp có tác động ngoài lãnh thổ. Đại diện Việt Nam bày tỏ quan ngại sâu sắc trước những khó khăn ngày càng nghiêm trọng mà nhân dân Cuba đang phải đối mặt do thiếu hụt năng lượng, lương thực, thuốc men và các biện pháp hạn chế tiếp tục bị siết chặt.
Nhắc lại lập trường đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định tại Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 tháng 9-2026, Việt Nam tiếp tục kêu gọi chấm dứt các biện pháp cấm vận, trừng phạt và hạn chế nguồn cung năng lượng đối với Cuba, đồng thời đưa Cuba ra khỏi danh sách các quốc gia bảo trợ khủng bố. Khẳng định tình hữu nghị truyền thống và đoàn kết trước sau như một, Việt Nam luôn trân trọng sự ủng hộ quý báu của Cuba và tiếp tục sát cánh, đẩy mạnh hợp tác thiết thực trong bảo đảm an ninh lương thực như hỗ trợ sản xuất lúa gạo, ngô và nuôi trồng thủy sản để giúp Cuba ổn định đời sống nhân dân. Cuối phiên họp, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bỏ phiếu thông qua Nghị quyết thường niên yêu cầu chấm dứt cấm vận Cuba, qua đó một lần nữa khẳng định sự đồng lòng của cộng đồng quốc tế và làm rạng ngời thêm tình đoàn kết sắt son, thủy chung giữa hai dân tộc Việt Nam – Cuba anh em trong suốt 66 năm qua và mãi mãi về sau.