Quảng cáo #38

Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình

Lịch sử thế giới thế kỷ XX, mối quan hệ giữa hai quốc gia Cuba và Việt Nam đã vươn lên trở thành một biểu tượng mẫu mực, vô song về tình đoàn kết quốc tế vô sản. Suốt những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam, lãnh tụ Fidel Castro, trên các cương vị lãnh đạo của mình, luôn là người bạn đồng hành thủy chung, kiên định. Với hơn 100 lần phát ngôn bảo vệ Việt Nam trên các diễn đàn đa phương và song phương khác nhau, từ những quảng trường rực lửa ở La Habana đến bục cao của Đại hội đồng Liên hợp quốc, hay giữa vùng đất lửa Quảng Trị, tiếng nói của ông luôn là điểm tựa tinh thần vững chắc, một thứ vũ khí ngoại giao sắc bén đồng hành cùng chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.

 

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Thủ tướng Chính phủ Cách mạng Cuba Fidel Castro tại buổi mít tinh của nhân dân Quảng Trị (tháng 9/1973). Ảnh: TTXVN

Bằng phương pháp luận của khoa học lịch sử, hệ thống phát ngôn, thông điệp và văn kiện của lãnh tụ Fidel Castro theo diễn tiến thời gian chính là những chứng cứ tư liệu vô giá minh chứng cho một tình anh em hiếm có, đồng thời phản ánh tầm nhìn chiến lược xuất sắc của một nhà lãnh đạo kiệt xuất đối với phong trào giải phóng dân tộc trên toàn cầu. Việc phân tích sâu sắc, xâu chuỗi các tư liệu gốc này theo một tiến trình logic không chỉ làm sáng tỏ một giai đoạn lịch sử oai hùng mà còn khẳng định những giá trị lý luận và thực tiễn bất biến của tình đoàn kết quốc tế, tạo nên một tác phẩm sử học chân thực, khách quan và toàn diện.

Tiếng vang đầu tiên từ quảng trường cách mạng và bản luận cương về sự hy sinh dân tộc

Dưới góc nhìn khoa học lịch sử, nửa đầu thập niên 1960 là giai đoạn đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến lược chiến tranh xâm lược tại Việt Nam, đồng thời sử dụng các phương thức truyền thông, ngoại giao tinh vi để bóp méo bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến cứu nước. Trong bối cảnh phức tạp đó, Cách mạng Cuba, dưới sự chèo lái của Tổng Tư lệnh Fidel Castro, là một trong những quốc gia đi đầu trên thế giới trong việc nhận diện bản chất thực dân mới và vạch trần âm mưu của kẻ thù. Mốc thời gian mang tính bước ngoặt mở đầu cho hệ thống tư liệu phát ngôn của Fidel Castro được ghi nhận vào ngày 02/12/1964. Sự kiện này diễn ra tại lễ khánh thành Trường Đại học Bách khoa José Antonio Echeverría, một công trình được xây dựng trên nền nhà máy đường Manuel Martínez Prieto ở Thủ đô La Habana, đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 4 năm thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Tại đây, lãnh tụ Fidel Castro đã đặt cuộc kháng chiến của Việt Nam vào trục tọa độ của phong trào giải phóng dân tộc toàn cầu để đưa ra một bản luận cương sâu sắc về cái giá của tự do và sự hy sinh của một dân tộc anh hùng khi ông khẳng định:

(...) Và cần phải nói rằng sự hy sinh là quan trọng. Cần phải hy sinh cho dù là rất đau đớn và tổn thương. Thật đau đớn khi các dân tộc phải trả một cái giá rất đắt như vậy; dân tộc này phải trả giá cao hơn dân tộc khác. Việt Nam là một trường hợp tiêu biểu. Những hy sinh to lớn của Việt Nam, trực tiếp đương đầu với đế quốc Mỹ và thực tế chúng đang thất bại nhưng vẫn lớn tiếng rêu rao theo cách nói của những kẻ lừa đảo, xâm lược nhằm kéo dài cuộc chiến tranh. Chúng đang đùa với lửa, với mục đích đê tiện và phi lý là duy trì ách thống trị của thực dân, đế quốc với nhân dân các nước. Chúng đang cố duy trì ách thống trị đó đối với chúng ta, không ngừng vu khống Cách mạng1.”

Nhận định lịch sử ở đây cho thấy Fidel Castro đã thấy rõ tính chất quy luật của lịch sử khi sự hung hãn của đế quốc chỉ là bề nổi của một chiến lược đang trên đà phá sản. Việc ông sử dụng những từ ngữ rất mạnh mẽ như “kẻ lừa đảo”, “xâm lược”  hay chỉ rõ hành vi chúng “đang đùa với lửa” nhằm duy trì ách thống trị của thực dân, đế quốc chứng tỏ tầm nhìn sắc bén trong việc bóc trần mặt trận ngoại giao dối trá của đối phương, đồng thời đặt cuộc đấu tranh của hai nước vào thế liên minh chặt chẽ chống kẻ thù chung, bảo vệ thành quả cách mạng trước những lời vu khống không ngừng nghỉ.

Mối quan hệ gắn kết keo sơn này nhanh chóng được nâng tầm thành một khối liên minh mang tính hệ tư tưởng sâu sắc thông qua các văn kiện chính thức ở cấp cao nhất giữa hai Đảng vào tháng 10/1965. Trong bức điện mang tính biểu tượng lịch sử gửi tới đồng chí Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhân dịp thành lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, đồng chí Fidel Castro đã viết những lời tâm huyết chứa đựng tinh thần quốc tế vô sản cao cả:

Đồng chí Hồ Chí Minh thân mến, Chúng tôi rất sung sướng nhận được lời chào anh em của đồng chí nhân dịp thành lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba. Nhân dịp này, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương chúng tôi, một lần nữa, tôi xin bày tỏ sự ủng hộ của chúng tôi đối với cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam chống sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, bảo vệ Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội. Trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, chúng tôi nhất định cố gắng hết sức mình ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của tất cả các dân tộc còn ở dưới ách bóc lột của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, và chúng tôi tiếp tục đấu tranh cho sự thống nhất của phong trào cộng sản quốc tế, mà trong lúc này rất có ý nghĩa đối với chúng ta. Chúng tôi xin khẳng định với các đồng chí rằng chúng tôi rất hài lòng về những mối quan hệ anh em đã có giữa hai đảng và nhân dân hai nước chúng ta. Chúng tôi xin gửi lời chào anh em đến các đồng chí, những chiến sĩ cao quý, đến tất cả những người lao động và những người cách mạng của nhân dân Việt Nam anh em. Xin chúc các đồng chí giành được nhiều thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Gửi các đồng chí lời chào cách mạng: Tổ quốc hay là chết, chúng ta nhất định thắng lợi2.

Bức điện này mang giá trị của một văn kiện lịch sử tối cao, chứng minh rằng tình cảm Cuba dành cho Việt Nam được xây dựng trên một nền tảng khoa học vững chắc của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, chứ không dừng lại ở sự đồng cảm thông thường. Việc lãnh tụ Fidel Castro khẳng định sự hài lòng về những mối quan hệ anh em gắn bó giữa hai đảng, hai nước và gửi tới những người lao động, những chiến sĩ cao quý lời chào cách mạng đanh thép Tổ quốc hay là chết, chúng ta nhất định thắng lợi là một sự bảo đảm cho liên minh chiến đấu vĩ đại này, biến Cuba trở thành một thành trì ngoại giao vững chắc bảo vệ Việt Nam trên trường quốc tế.

Lời thề giúp đỡ toàn diện và cảnh báo về ngõ cụt chiến lược của kẻ xâm lược

Tiếp diễn theo tiến trình lịch sử, vào ngày 02/12/1965 tại Lễ tốt nghiệp của 764 giáo viên tiểu học đầu tiên của Trường Đại học Sư phạm Makarenko và Lễ bế giảng khóa học dành cho nữ nông dân tại Trường Ana Betancourt, vốn cũng là dịp kỷ niệm 5 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Cuba - Việt Nam, Tổng Tư lệnh Fidel Castro đã đưa ra một bài phát biểu chứa đựng những nhận định chiến lược quan trọng. Ban đầu, vị Tổng Tư lệnh tập trung nhấn mạnh vào việc phấn đấu vì tương lai của một dân tộc ngày càng đoàn kết, ý thức và vững mạnh hơn để kẻ thù sẽ không còn dễ dàng nghĩ đến việc phát động các cuộc xâm lược như ở bãi biển Girón. Ông khẳng định kẻ thù đã sai ngay từ khi đó, rất sai, và ngày hôm nay chúng sẽ không mắc sai lầm như vậy vì biết nhân dân Cuba đã trưởng thành như thế nào trong sự đoàn kết, lương tâm và sức mạnh. Tuy nhiên, từ thực tiễn của hòn đảo tự do, Fidel Castro đã hướng tầm nhìn sang Đông Nam Á để rút ra những bài học vĩ đại. Ông khẳng định những bài học phi thường mà bọn đế quốc đang được đón nhận ở Việt Nam sẽ dạy cho chúng biết thế nào là sức mạnh của nhân dân, và chúng sẽ không bao giờ có thể đè bẹp được các cuộc cách mạng, các dân tộc cách mạng. Chỉ sau một vài phút tập trung vào nội dung chính của buổi lễ tốt nghiệp, ông đã chủ động quay lại vấn đề Việt Nam, dành thời lượng lớn để phân tích sâu sắc về cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta khi dõng dạc tuyên bố trước quần chúng:

(...) Nhưng chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam và vào tình đoàn kết của phe xã hội chủ nghĩa. Trước mọi mối đe dọa, chúng ta xin khẳng định lại lập trường và cam kết của chúng ta trong việc giúp đỡ Việt Nam, giúp Việt Nam cả về con người và vũ khí (vỗ tay kéo dài). Có rất nhiều người trên đất nước chúng ta sẵn sàng nhập ngũ để sang chiến đấu ở đó, chống lại đế quốc Mỹ và có rất nhiều người trên khắp thế giới cũng sẵn sàng làm điều tương tự. Đó là lý do tại sao chúng ta tin tưởng vào chiến thắng của nhân dân Việt Nam trước mọi mối đe dọa của đế quốc, bởi vì đến nay, họ đã chịu đựng đủ rồi, nhưng người Việt Nam biết rằng họ không đơn độc, và rằng sẽ có ngày nếu họ nói: “Hãy tình nguyện đến Việt Nam!” thì trên thế giới này sẽ có hàng trăm ngàn người, sẽ có hàng triệu người sẵn sàng! (vỗ tay), sẽ có hàng triệu người sẵn sàng đến đó để chiến đấu và cắt đứt bàn tay tội ác của bọn đế quốc xâm lược1.”

Phân tích tư liệu này dưới góc độ lịch sử quân sự và chính trị học, có thể nhận thấy Fidel Castro đã chuyển hóa tư tưởng tình nguyện thành một học thuyết đấu tranh toàn cầu, khẳng định sức mạnh của chính nghĩa có thể tập hợp hàng triệu con người trên khắp thế giới sẵn sàng cắt đứt bàn tay tội ác của bọn đế quốc xâm lược. Ông bình luận sắc sảo rằng chính vì sự đoàn kết quốc tế và ý chí kiên cường đó mà bọn đế quốc đã lâm vào ngõ cụt, nghĩa là không còn lối thoát nào khác ngoài thất bại. Lãnh tụ Cuba vạch trần sai lầm mang tính bản chất của kẻ thù khi chúng đã nghĩ có thể ỷ vào sức mạnh và số lượng áp đảo, nghĩ Việt Nam là một dân tộc nhỏ bé, dân số ít ỏi. Nhưng đến thời điểm đó, chúng mới nhận ra thực tế là nhân dân Việt Nam đông đảo hơn bọn đế quốc gấp bội vì tất cả những người cách mạng trên thế giới, với tất cả phẩm giá, dũng khí và tất cả lẽ sống, đều coi bọn đế quốc là kẻ thù và đang đứng về phía nhân dân Việt Nam. Nhận định khoa học lịch sử này của Fidel cho thấy sức mạnh của một dân tộc không đo đếm bằng vũ khí hay mật độ dân số thuần túy, mà bằng quy mô của sự chính nghĩa và khả năng liên kết các lực lượng tiến bộ toàn cầu.

Bản tuyên ngôn bằng máu và thế trận phòng thủ liên lục địa

Năm 1966 ghi dấu một mốc son vĩ đại trong lịch sử quan hệ ngoại giao song phương khi tình đoàn kết quốc tế được thử thách và ngời sáng trước những khó khăn vật chất trực diện. Vào ngày 02/01/1966, nhân dịp kỷ niệm lần thứ VII Cách mạng Cuba thành công, tại Quảng trường Cách mạng La Habana, lãnh tụ Fidel Castro đã có một bài phát biểu đi vào lịch sử. Khi đối diện với những vấn đề kinh tế nội tại, cụ thể là việc sụt giảm sản phẩm gạo do nhiều lý do nằm ngoài khả năng, Fidel Castro đã không lựa chọn giải pháp ngoại giao né tránh mà công khai giải thích một cách tường tận dựa trên báo cáo của Bộ Ngoại thương Cuba liên quan đến trao đổi thương mại với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Văn bản báo cáo lịch sử được ông trích dẫn rõ ràng về việc xuất khẩu đề ra cho năm 1966 là 110 triệu và nhập khẩu là 140 triệu, dự báo Cuba giao số đường lớn hơn và nhận số gạo lớn hơn. Tuy nhiên, đoàn đại biểu Cuba khi đến Bắc Kinh thảo luận về Nghị định thư thương mại đã nhận được các đề xuất chính thức của phía đối tác rằng không thể tiếp nhận 800.000 tấn đường do Cuba đề xuất vì lý do Trung Quốc được mùa, đã thanh toán xong lượng đường vay của Liên Xô và nhân dân hiện không cần trái phiếu để mua đường. Đồng thời, số lượng gạo cung cấp cho Cuba năm 1966 không thể duy trì ở mức ngoại lệ 250.000 tấn như năm 1965 mà buộc phải quay về mức 135.000 tấn của năm 1964. Các lý do được đưa ra là nhu cầu cấp thiết cho dự trữ quốc gia trong trường hợp bị đế quốc Mỹ tấn công, sự thiếu hụt trong sản xuất ngũ cốc khác buộc phải xuất khẩu gạo thu ngoại tệ, và đặc biệt là phải dành để giúp đỡ cho Việt Nam. Trước tình huống kinh tế đầy thử thách ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân, vị Tổng Tư lệnh Cách mạng Cuba đã đưa ra một tuyên bố mang tính biểu tượng vĩ đại, khẳng định lập trường đạo đức cách mạng cao cả của hòn đảo tự do:

“(...) Nhưng khi nêu lên vấn đề này, chúng ta không yêu cầu phía Trung Quốc sửa đổi. Chúng ta chấp nhận các lý do về kinh tế cũng như các lý do về chiến lược như họ đã đưa ra. Chúng ta sẽ không bao giờ có thể phản đối điều này, lại càng không thể khi nhắc đến tên Việt Nam (vỗ tay). Bởi vì, vì nhân dân Việt Nam, chúng ta sẵn sàng hiến dâng không chỉ đường mà còn cả máu của mình, là thứ còn quý giá hơn rất nhiều so với đường! (vỗ tay rất lâu)1

Luận điểm sẵn sàng hiến dâng cả máu của Fidel Castro đã nâng tầm mối quan hệ bang giao lên mức độ thiêng liêng nhất, chứng minh một chân lý lịch sử rằng lợi ích vật chất thông thường phải nhường chỗ cho tình anh em xương máu, và cái tên Việt Nam có một sức nặng tinh thần đối với mỗi người dân Cuba.

Để làm rõ hơn tầm ảnh hưởng toàn cầu của bài học Việt Nam, ngay sau đó, vào ngày 15/01/1966, tại Lễ bế mạc Hội nghị Đoàn kết với nhân dân các nước Á, Phi và Mỹ Latinh lần thứ nhất (Hội nghị Ba châu) tổ chức ở Nhà hát Chaplin, Thủ đô La Habana, Fidel Castro lại dành phần lớn nội dung diễn thuyết để nói về Việt Nam. Ông khẳng định chủ nghĩa đế quốc nhất định sẽ bị đánh bại và đặt câu hỏi đầy tự hào rằng trong thời đại ngày nay, nhân dân nước nào đã và đang chỉ ra cho chúng ta bài học phi thường nhất, để rồi tự trả lời đó chính là nhân dân Việt Nam. Ông đập tan âm mưu chia cắt đất nước của kẻ thù bằng việc khẳng định đối với những người cách mạng thì chỉ có một nước Việt Nam duy nhất. Vị lãnh tụ phân tích sâu sắc cục diện chiến trường khi đế quốc Mỹ dốc phần lớn sức mạnh chống lại nhân dân miền Nam với hàng trăm nghìn lính chính quy, binh sĩ tay sai, hàng trăm máy bay và hàng nghìn trực thăng nhưng vẫn không thể đè bẹp được nhân dân. Sự hung hãn ném bom liên tục những người yêu nước Lào, đe dọa xâm lược Campuchia chỉ cho thấy sự bất lực, sự tuyệt vọng của chúng trước một quốc gia nhỏ bé nhưng đang bị uy hiếp nghiêm trọng. Tầm nhìn chiến lược của Fidel chỉ rõ các nước cách mạng chúng ta cần phải giúp tăng cường sự phòng vệ của nhân dân Campuchia nhỏ bé, đồng thời khẳng định tinh thần sẵn sàng đối với Lào, miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Ông kết luận:

(...) Nếu đế quốc Mỹ tự ý ném bom bất cứ nơi nào chúng muốn và gửi lính đánh thuê đến để đàn áp phong trào cách mạng ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, thì các dân tộc cách mạng nhận thấy họ có quyền giúp đỡ, kể cả hiện diện trực tiếp (vỗ tay), đối với các dân tộc đang chống đế quốc Mỹ, và do đó, nếu mỗi người giúp đỡ hết sức mình, mỗi người giúp đỡ hết khả năng của mình, thì đế quốc Mỹ sẽ bị đánh bại. Và nếu ở đâu đó, chúng phải chịu thất bại nặng nề, thì đó chính là ở Đông Nam Á (vỗ tay). Vì ở đó có thể hình thành một tương quan lực lượng vượt trội hơn hẳn so với đế quốc Mỹ. Vì lý do này, chúng ta không mảy may nghi ngờ việc chúng sẽ bị đánh bại, rằng chúng sẽ bị chính các dân tộc trong khu vực đó đè bẹp, và nếu chúng tăng cường lực lượng cùng với các đồng minh phản động, chúng cũng sẽ bị các dân tộc đó đè bẹp và không chỉ có các dân tộc đó, mà sẽ có cả lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa và của các dân tộc khác (vỗ tay)2.”

Vị lãnh tụ bày tỏ niềm tin tưởng vững chắc rằng Hội nghị đoàn kết ba châu lục lần này đã thể hiện và hành động theo cách mà sự ủng hộ, tình cảm đoàn kết đối với Việt Nam, Lào và Campuchia trở nên rõ ràng và sẽ còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Khẩu hiệu lịch sử bằng lời nói của Fidel Castro đã nhanh chóng được kiểm chứng bằng thực tế cuộc chiến khi vào ngày 19/07/1966, sáu sĩ quan trẻ Cuba là Fausto Mastrapa Rodríguez, Hermes Delgado Cárdenas, Manuel Rico Vázquez, Gonzalo Reyes Rodríguez, Luis Rodríguez Rivas và Juan Antonio Pérez Claro, đã anh dũng ngã xuống, hy sinh vì bị máy bay Mỹ ném bom trong chuyến nghiên cứu tại Việt Nam. Sự hy sinh này là bằng chứng đanh thép nhất biến lời thề của vị Tổng Tư lệnh thành một hiện thực sinh động, hòa máu xương của người con Cuba vào cuộc đấu tranh độc lập của dân tộc Việt Nam anh em.

Tội ác 12 triệu tấn bom và ngoại giao pháp lý ủng hộ Mặt trận Giải phóng

Khi cuộc kháng chiến cứu nước bước vào giai đoạn phối hợp nhịp nhàng giữa đòn tiến công quân sự trên chiến trường và đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán, Cuba tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong việc tạo dựng hành lang dư luận quốc tế ủng hộ chính nghĩa Việt Nam. Vào ngày 03/06/12969, trong buổi mít tinh lớn chào mừng Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do ông Trần Bửu Kiếm dẫn đầu sang thăm Cuba, Tổng Tư lệnh Fidel Castro đã trình bày một trong những bài diễn văn dài nhất, sâu sắc nhất thể hiện sự khâm phục và xúc động trước tấm gương vĩ đại về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Ông bày tỏ niềm tự hào sâu sắc khi đất nước Cuba không những chỉ là nước đầu tiên cử Đại sứ bên cạnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mà còn là nước đầu tiên đón tiếp với nghi thức chính thức một đại diện cấp cao và nổi tiếng của Mặt trận. Vị lãnh tụ nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt của cuộc mít tinh khi ngay tại châu lục này, chỉ cách nước Mỹ có 90 dặm, vị đại diện của miền Nam Việt Nam lại được hàng trăm nghìn người dân cách mạng đón tiếp nồng hậu, một hành động tuy là sự bù đắp nhỏ nhoi cho những tội ác kinh khủng do đế quốc Mỹ gây ra nhưng mang lại giá trị tinh thần to lớn. Ý thức rõ dư luận quốc tế giữ một vai trò quan trọng, là một nhân tố to lớn, rất quan trọng trong cuộc đấu tranh và thắng lợi của nhân dân Việt Nam, Fidel Castro đã sử dụng bục diễn đàn để bày tỏ cụ thể sự ủng hộ hoàn toàn đối với lập trường chính trị và những điểm cụ thể của Mặt trận tại cuộc hội đàm ở Paris nhằm bóc trần bộ mặt của bọn xâm lược Mỹ trước dư luận thế giới:

1. Tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam được ghi trong Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam, đó là: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

2. Chính phủ Mỹ phải rút hoàn toàn quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí và phương tiện chiến tranh, cũng như lực lượng của các nước là đồng minh của Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam mà không có bất kỳ điều kiện nào; giải tán các căn cứ quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, từ bỏ mọi hành động gây tổn hại chủ quyền, lãnh thổ và an ninh của miền Nam Việt Nam và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

 3. Quyền đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam là quyền phòng vệ chính đáng thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc. Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam tại miền Nam Việt Nam sẽ do các bên của Việt Nam tự giải quyết.

4. Người dân miền Nam Việt Nam tự quản lý công việc của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài; tự quyết định chế độ chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ. Sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ để thành lập Quốc hội lập hiến nhằm thiết lập Hiến pháp và thành lập chính phủ liên hiệp ở miền Nam Việt Nam, phản ánh sự hòa hợp dân tộc và sự đoàn kết lâu dài của mọi tầng lớp nhân dân.

5. Trong thời gian từ khi lập lại hòa bình đến khi tổng tuyển cử, không cho phép bên nào được áp đặt thể chế chính trị đối với nhân dân miền Nam Việt Nam.

6. Thực hiện chính sách láng giềng tốt với Vương quốc Campuchia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và nền trung lập, toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia trên đường biên giới hiện có. Thực hiện chính sách láng giềng tốt với Vương quốc Lào trên cơ sở tôn trọng Hiệp định Giơnevơ về Lào năm 1962. Năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình: “Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ, bình đẳng và cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình; nhận sự giúp đỡ về kinh tế và kỹ thuật, không chịu ràng buộc về chính trị, của tất cả các nước, bất kể họ là ai.

7. Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở bàn bạc, thỏa thuận giữa hai miền, không có sự can thiệp của nước ngoài.

8. Căn cứ những điều khoản của Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam năm 1954, trong khi chờ thống nhất nước Việt Nam, hai miền Nam - Bắc cam kết không tham gia liên minh quân sự với nước ngoài, không để nước nào có căn cứ quân sự, quân đội và nhân viên quân sự trên lãnh thổ của mình, không thừa nhận sự bảo vệ của bất kỳ quốc gia, liên minh hoặc khối quân sự nào dù họ là ai.

9. Giải quyết hậu quả chiến tranh: a. Các bên sẽ thương lượng để trả tự do cho những người bị bắt trong chiến tranh. b. Chính phủ Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những mất mát và tàn phá mà họ đã gây ra cho nhân dân Việt Nam ở hai khu vực (vỗ tay)1.

Sự phân tích hệ thống 10 điểm này dưới góc độ khoa học lịch sử cho thấy Cuba đã dùng uy tín ngoại giao của mình để phổ biến rộng rãi lập trường của Mặt trận đến các quốc gia khác, đặc biệt là ở khu vực Mỹ Latinh. Fidel Castro nhấn mạnh Việt Nam là một tấm gương, một sự cổ vũ, chứng minh cho thế giới thấy rằng một dân tộc sẵn sàng kháng cự và chiến đấu thì không những chỉ chiến đấu đến khi hy sinh, mà còn có thể chiến đấu cho đến khi thắng lợi hoàn toàn trước mọi số lượng quân nhu, bom đạn áp đảo của đế quốc. Do đó, việc ủng hộ Mặt trận với tất cả tấm lòng, lẽ phải là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi phong trào cách mạng.

Cũng trong bài diễn văn sâu sắc này, Fidel Castro đã đưa ra lời bình luận kinh điển để tưởng nhớ và bảo vệ luận điểm mang tính biểu tượng của Che Guevara khi nhấn mạnh yêu cầu phải ủng hộ Việt Nam bằng hành động đấu tranh qua lời bày tỏ hãy tạo ra hai, ba, nhiều Việt Nam hơn nữa. Ông đập tan những sự diễn giải sai lệch, cố tình vu khống khẩu hiệu đó như một điều phi lý khi cho rằng muốn có nhiều tấn thảm kịch. Fidel khẳng định phải nhìn từ giác độ ý nghĩa tấm gương và cuộc đấu tranh của Việt Nam, bởi vì Che không nghĩ đến thảm kịch mà nghĩ tới nhiệm vụ đấu tranh, phẩm giá, vinh quang và sự chính nghĩa của các dân tộc được giải phóng khỏi chủ nghĩa đế quốc. Ông tôn vinh tư duy của Che và những người đồng đội đã hy sinh vẻ vang ở Bolivia khi khẳng định tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong động cơ của họ, và khi ngã xuống, họ cũng đã hy sinh, đã đổ máu vì sự nghiệp của nhân dân Việt Nam anh hùng. Khép lại bài diễn văn, vị Tổng Tư lệnh khẳng định người Việt Nam làm cho chúng ta nhớ đến những gì tốt đẹp nhất, cao quý nhất, vinh quang nhất, tận tụy nhất, anh hùng nhất mà trái tim con người có thể ấp ủ, gợi nhắc lại lịch sử nghĩa quân Mambi của Cuba từng chiến đấu đơn độc suốt nhiều thập kỷ bằng vũ khí thô sơ chống lại đội quân trang bị hiện đại. Ông gửi lời chào kính trọng tới Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, các chiến sĩ anh hùng và Tiểu đoàn Girón anh dũng, khẳng định niềm tin tưởng vô hạn vào thắng lợi của sự nghiệp chính nghĩa Việt Nam.

Tình cảm đoàn kết gắn bó này tiếp tục vang lên kiên định tại diễn đàn học đường vào ngày 27/08/1971, trong bài phát biểu của Fidel Castro tại hoạt động đoàn kết do Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới và Liên minh Sinh viên quốc tế tổ chức ở Trường Đại học Tổng hợp La Habana. Ông khẳng định nhân dân Cuba luôn lấy nhân dân Việt Nam làm tấm gương vĩ đại, một bài học to lớn dạy cho bọn đế quốc biết thế nào là tinh thần chiến đấu và chủ nghĩa anh hùng khi đương đầu với những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất bằng vũ khí thông thường và cơ bản đã giành chiến thắng.

Tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ liên tục bị lãnh tụ Cuba đưa ra ánh sáng trước dư luận quốc tế bằng những số liệu thống kê cụ thể và đanh thép. Vào ngày 06/06/12972, trong chuyến thăm các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, tại buổi chiêu đãi do ban lãnh đạo Ba Lan tổ chức, Tổng Tư lệnh Fidel Castro một lần nữa khẳng định đối với Đảng, nhân dân Cuba và phần lớn dư luận thế giới thì vấn đề hàng đầu được quan tâm là Việt Nam. Ông đưa ra bản cáo trạng lay động lương tri nhân loại khi tuyên bố ở Việt Nam đang diễn ra cuộc chiến tranh khốc liệt nhất từng được biết đến với mười hai triệu tấn bom đạn đã trút xuống đầu nhân dân, gấp đôi tổng số bom đạn trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Vị Tổng Tư lệnh phân tích rõ trung bình mỗi người dân Việt Nam hứng chịu lượng bom đạn tương đương 4.500 tấn dội xuống hằng ngày và hiện tại trên đất Việt Nam đã hằn sâu dấu vết của 21 triệu hố bom. Bình luận lịch sử chỉ ra rằng việc đưa ra những con số toán học cụ thể này tại trung tâm châu Âu là một đòn tấn công ngoại giao sắc bén, vạch trần luận điệu hòa bình giả tạo của chính quyền xâm lược lúc bấy giờ.

Niềm tin về một dân tộc bất khả chiến bại

Hiệp định Paris năm 1973 được ký kết mở ra một cục diện mới, và chuyến thăm đầu tiên của lãnh tụ Fidel Castro tới Việt Nam từ ngày 12 đến ngày 17/09/1973 đã trở thành một sự kiện đi vào huyền thoại của lịch sử ngoại giao thế giới. Vào ngày 12/09/1973, trong bài phát biểu đáp lại những lời tốt đẹp của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn tại Hà Nội, Fidel Castro đã bày tỏ một tình cảm dạt dào niềm trìu mến, lòng khâm phục, tinh thần anh em khó có thể dùng lời mà nói lên được. Ông khẳng định Việt Nam là một tên gọi thân thiết, gần gũi đối với trái tim mọi người Cuba, là tấm gương, nguồn cổ vũ bất hủ trong cuộc đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc trên thế giới.

Bằng tư duy khoa học lịch sử sâu sắc, Fidel Castro đã phân tích một cách thiên tài về di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nhấn mạnh rằng do hiểu rõ tầm quan trọng lịch sử của cuộc Cách mạng tháng Mười vinh quang và tiếp thu tư tưởng sáng ngời của Lênin, Người đã thấy rõ trong chủ nghĩa Mác - Lênin con đường giải thoát các dân tộc thuộc địa. Ông bình luận rằng sự kết hợp thiên tài giữa tư tưởng yêu nước với cuộc đấu tranh giải thoát quần chúng khỏi sự áp bức bóc lột của phong kiến và giai cấp bóc lột, coi sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội là hai điểm then chốt, chính là cống hiến vĩ đại của Người.

Fidel khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ các dân tộc lạc hậu có thể có những bước nhảy vọt trong lịch sử để xây dựng kinh tế theo con đường xã hội chủ nghĩa không phải trải qua chủ nghĩa tư bản, và Người đã sáng suốt xây dựng, rèn luyện Đảng Cộng sản Đông Dương, sau này là Đảng Lao động Việt Nam thành một đội tiên phong biết đoàn kết toàn dân để đánh bại hai thế lực phản động hùng mạnh nhất là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Vị lãnh tụ Cuba bày tỏ sự tri ân sâu sắc khi khẳng định cách mạng Việt Nam là bộ phận của phong trào cách mạng quốc tế, nhân dân Việt Nam chiến đấu không những vì bản thân mình mà còn đổ máu vì nhân dân Cuba, đồng thời ca ngợi Hồ Chí Minh như một người bảo vệ kiên quyết nhất sự đoàn kết tiến bộ trên thế giới. Ông chia sẻ niềm xúc động và biết ơn sâu sắc khi nhận thấy mỗi công dân Việt Nam, từ nam nữ, già trẻ đến thiếu nhi đều là một anh hùng tạo nên thắng lợi, bất chấp những cuộc ném bom tàn bạo nhất vừa diễn ra vài tháng trước.

 Đồng thời, Fidel thông báo kết quả của Hội nghị cấp cao Algiers, nơi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhận được sự ủng hộ to lớn, biểu hiện uy tín vĩ đại của nhân dân Việt Nam và sự cô lập của đế quốc Mỹ. Cũng trong bài phát biểu này, ông đã thể hiện tình đoàn kết chiến đấu sắt son khi thông báo về những âm mưu lật đổ của đế quốc Mỹ tại Chile chống lại Chính phủ của Tổng thống Allende, tấn công Đại sứ quán Cuba tại Santiago de Chile và bắn phá tàu chở hàng Playa Larga của Cuba đang chở đường tặng nhân dân Chile ngay trên hải phận quốc tế. Trước những hành động thù địch đó, Fidel tự hào khẳng định các cán bộ ngoại giao và thủy thủ Cuba đã hô lớn Tổ quốc hay là chết, sẵn sàng bảo vệ đến giọt máu cuối cùng, thà chìm dưới đáy biển chứ quyết không chịu lùi bước. Ông khẳng định dù thế cục biến động, Cách mạng Cuba đã hoàn toàn được củng cố và vững vàng như một thành trì bất khả chiến thắng ngay trước cửa ngõ Hoa Kỳ, luôn sẵn sàng đứng bên cạnh để góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp xây dựng lại đất nước Việt Nam bằng việc cử người lao động và thiết bị sang xây dựng bệnh viện, trung tâm nông nghiệp, đường xá. Khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay, Fidel khẳng định trên lĩnh vực tư tưởng cách mạng thì chỉ có ban ngày và mặt trời luôn chiếu sáng sự nghiệp của hai nước, nâng cốc chúc mừng tình hữu nghị đời đời bền vững.

Tiếp tục tiến trình chuyến thăm, vào ngày 13/09/1973, trong bài phát biểu với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí Việt Nam, Tổng Tư lệnh Fidel bày tỏ niềm khâm phục còn sâu sắc hơn sau khi được chứng kiến tận mắt mảnh đất anh hùng này. Ông chia sẻ niềm tiếc nuối chân thành:

Chúng tôi chỉ tiếc một điều là đã không đến thăm Việt Nam trước ngày 03/9/1969 và không có vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mà chúng tôi vô cùng kính phục. Nhưng chúng tôi đã được bù đắp bởi chúng tôi đã được trực tiếp sang thăm, được gặp gỡ nhân dân Việt Nam, được tận mắt chứng kiến sự nghiệp, những lời dạy, hành động, sự giáo dục, tấm gương, chủ nghĩa anh hùng, sự giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm đượm trong mỗi người dân Việt Nam1.”

Vị lãnh tụ khẳng định cả thế giới và những người Cuba cách mạng đều cảm thấy tự hào về một nhân dân biết phát huy những giá trị đạo đức cao quý như dân tộc Việt Nam. Đỉnh cao triết lý mang tính sử thi của chuyến đi được ghi dấu vào ngày 14/09/1973 qua bài phát biểu đầy lay động tại mảnh đất Vĩnh Linh anh hùng trước đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Trần Đồng. Đứng trước cảnh tượng vùng đất phía Nam với hàng nghìn hố bom, nhà cửa bị phá hủy, Fidel Castro khẳng định những hình ảnh ấy khiến lòng căm thù của ông đối với bọn đế quốc tăng lên gấp bội phần. Ông đưa ra một nhận định khoa học lịch sử sâu sắc rằng chỉ có đến tận nơi đây người ta mới có thể hiểu được tội ác của bọn đế quốc lớn đến mức nào và mới có thể đánh giá được hết tầm vóc anh hùng của nhân dân Việt Nam, đồng thời khẳng định thắng lợi này chỉ có thể lý giải được bằng đạo lý, bằng danh dự, bằng lòng yêu nước và tinh thần cách mạng của một nước nhỏ bé, nghèo khó đánh bại kẻ thù mạnh nhất về công nghiệp, quân sự và kinh tế. Ông bày tỏ sự khâm phục đối với những chiến sĩ anh hùng và dung dị, những nam nữ, em nhỏ kiên cường chịu đựng mọi hy sinh, bao năm sống dưới lòng đất, lao động và chiến đấu dưới bom đạn mà không hề nhụt chí. Vị lãnh tụ khẳng định một dân tộc thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh tôi luyện là một dân tộc bất khả chiến bại, khiến mọi thứ vũ khí hóa học và kỹ thuật hiện đại của Mỹ đều trở nên vô vọng và phải cuốn gói cút khỏi Việt Nam sau Hiệp định Paris. Nhìn nhận thực tế rằng ngay cả khi hòa bình đã ký kết, người lao động và trẻ em vẫn có thể chết bởi những trái mìn xâm lược còn sót lại, Fidel nhấn mạnh thế giới cần phải hiểu hãy còn phải đấu tranh, lao động và cảnh giác bao nhiêu nữa để tạo ra điều kiện hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam, nơi bom đạn đổ xuống nhiều nhất khu vực Vĩnh Linh. Ông đưa ra một lời tiên tri mang tính trường tồn lịch sử:

Lịch sử kể lại cho chúng ta những gì đã xảy ra cách đây 2.000 hoặc 3.000 năm, kể lại những sự kiện có giá trị lớn lao trong chiến tranh của các dân tộc khác. Nhưng tôi tin chắc rằng 1.000 năm, 2.000 năm, 5.000 năm, 10.000 năm sẽ qua đi và các thế hệ tương lai sẽ phải nói đến chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Việt Nam1.”

Khép lại bài phát biểu trong không khí hạnh phúc như đang ở chính nhà mình, giữa những người thân thuộc, ông nâng cốc chúc cho tương lai thắng lợi, thống nhất của nhân dân Vĩnh Linh và toàn thể Việt Nam.

Sẻ chia từng giọt mồ hôi trên những công trình kiến thiết

Sau khi Hiệp định Paris mở ra con đường giành độc lập hoàn toàn, tình đoàn kết quốc tế của Cuba nhanh chóng chuyển đổi phương thức từ việc sẵn sàng hiến dâng xương máu trên chiến trường sang hành động sẵn sàng đổ mồ hôi để giúp người anh em tái thiết đất nước từ đống đổ nát. Vào ngày 26/03/1974, tại buổi mít tinh đoàn kết được tổ chức tại Quảng trường Cách mạng La Habana nhân chuyến thăm Cuba của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng Tư lệnh Fidel Castro đã trình bày một bài phát biểu có tính chất tổng kết thực tiễn và lý luận rất cao. Ông điểm lại lịch sử giống nhau trong một trăm năm qua của hai dân tộc khi cùng dựa trên nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin và cùng đấu tranh chống lại kẻ thù rắp tâm xâm lược từ khi hạm đội thực dân Pháp vào bờ biển Việt Nam năm 1858. Fidel tự hào bình luận về sự đồng cảm sâu sắc của người dân Cuba khi tinh thần đoàn kết được biểu hiện bằng muôn vàn hình thức trong các nhà máy, trường học, nông thôn, nơi nhiều cơ sở sản xuất tự nguyện mang cái tên vẻ vang Việt Nam hay Hồ Chí Minh. Ông khẳng định cống hiến phi thường của Việt Nam đối với nhân loại là việc thành lập chính đảng năm 1930 theo chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp giải phóng dân tộc với giải phóng xã hội dựa trên liên minh công nông. Fidel trích dẫn câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng không có gì quý hơn độc lập, tự do và nhắc lại lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946 cứu nước bằng mọi thứ vũ khí thô sơ để kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động, làm đế quốc Mỹ khiếp sợ đến mức nghĩ đến việc dùng vũ khí nguyên tử. Vị lãnh tụ Cuba nhấn mạnh bằng cuộc đấu tranh anh hùng, Việt Nam đã cột chặt nanh vuốt của chủ nghĩa đế quốc, giúp Cuba giảm bớt những hoạt động khiêu khích tội ác tại căn cứ Guantanamo, chứng minh rằng những người hy sinh ở Việt Nam cũng là hy sinh cho toàn nhân loại. Ông tố cáo sự tàn bạo của Mỹ khi ném bom phá hủy làng mạc, trường học, bệnh viện, công trình đê điều và bắn chết cả những con bò sữa do Cuba gửi tặng, buộc các bác sĩ Cuba phải mổ dưới bom đạn. Từ thực tiễn đó, Fidel dõng dạc tuyên bố trước quần chúng đang giơ cao tay đồng thanh biểu quyết:

Chúng ta đã nói: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” (vỗ tay), và không có người cách mạng Cuba yêu nước nào lại không sẵn sàng dành máu của mình cho Việt Nam. Những ai sẵn sàng làm bất cứ điều gì vì Việt Nam thì xin hãy giơ tay! (Tất cả mọi người đều giơ cao tay và đồng thanh hô to: Việt Nam! Việt Nam! Cuba - Việt Nam đoàn kết nhất định thắng!). Nhưng Việt Nam hào hiệp không muốn những người khác đổ máu cho mình (vỗ tay). Việt Nam hào hiệp, đã quyết tâm chỉ hy sinh xương máu của chính con em mình khi cần thiết (vỗ tay) và kiên quyết đánh đổi khi cần thiết. Nhưng, ngày nay Việt Nam đang làm nhiệm vụ kiến thiết lại đất nước. Và nếu trước đây, chúng ta đã sẵn sàng hiến dâng máu của mình thì ngày nay chúng ta cũng sẵn sàng đổ mồ hôi vì Việt Nam! (vỗ tay kéo dài)1.”

Sự chuyển dịch chiến lược này được cụ thể hóa bằng việc Cuba tiếp tục hợp tác kinh tế, viện trợ không hoàn lại và cử năm đội lao động mang tên Hồ Chí Minh vinh quang sang xây dựng một khách sạn, một bệnh viện, các trại chăn nuôi gà, trại chăn nuôi bò và một con đường. Fidel Castro bình luận một cách đầy khiêm nhường rằng Cuba không mong đợi lời cảm ơn, bởi vì chính chúng ta mới là những người phải cảm ơn Việt Nam. Ông bày tỏ niềm tin khoa học rằng với tài nguyên phong phú và sự cần cù, Việt Nam nhất định sẽ trở thành một pháo đài của chủ nghĩa xã hội về cả chính trị, quân sự lẫn kinh tế ở Đông Nam Á, xây dựng đất nước to đẹp hơn mười lần như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời hô vang lời chúc tình đoàn kết bất diệt muôn năm.

Mốc son lịch sử của ngày non sông liền một dải được đánh dấu trang trọng bằng bức thư ngày 30/06/1976 của đồng chí Fidel Castro gửi đồng chí Lê Duẩn nhân sự kiện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức xuất hiện thông qua sự nhất trí của Quốc hội chung cả nước. Thay mặt Đảng, Chính phủ và nhân dân, vị lãnh tụ gửi lời chào mừng anh em nhiệt liệt, khẳng định toàn thể nhân dân Cuba xem sự vui sướng hân hoan đó như của chính mình khi lời dạy và tư tưởng "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biến thành hiện thực vật chất. Ông tin tưởng với sự lãnh đạo đúng đắn, nhân dân Việt Nam sẽ biến chủ nghĩa anh hùng trong chiến đấu thành thắng lợi trong sản xuất để đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời trang trọng nghiêng cờ tưởng nhớ đến những người với dòng máu cao cả đã mở đầu giai đoạn mới của lịch sử và khẳng định Việt Nam là thành trì vĩ đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc, xã hội.

Tình cảm thủy chung vô điều kiện đó tiếp tục vượt qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử biến động khi vào ngày 21/02/1979, trước cuộc chiến tranh xâm lược biên giới chống lại Việt Nam, một cuộc mít tinh với sự tham dự của hơn một triệu người đã diễn ra tại Quảng trường Cách mạng La Habana do đồng chí Jaime Crombet chủ trì. Dù theo chương trình dự kiến ban đầu không phát biểu, Tổng Tư lệnh Fidel Castro đã bước lên lễ đài và đưa ra những tuyên bố đanh thép đầy tính chiến đấu nhằm phản đối một trong những hành vi ghê tởm nhất, hèn hạ nhất, khốn nạn nhất là cuộc xâm lược chống lại nhân dân Việt Nam. Ông bình luận sắc sảo rằng tội ác này càng nghiêm trọng hơn khi nó xuất phát từ một quốc gia vài năm trước còn được coi là thành trì cách mạng, là nước xã hội chủ nghĩa chống đế quốc. Fidel Castro cảnh báo hậu quả của kiểu phiêu lưu này có thể mang lại thảm họa khủng khiếp cho toàn cầu vì Việt Nam không thể bị hủy diệt trong im lặng, buộc các thế lực ngông cuồng phải rút chạy và bị đánh bại. Ông khẳng định đây là lúc dư luận thế giới phải lên tiếng để xác định ai thực sự là người tiến bộ, cách mạng, yêu chuộng hòa bình thông qua hành động lên án kịch liệt cuộc phiêu lưu đầy tội ác đối với nhân dân Việt Nam đang chiến đấu vì chính nghĩa. Vị Tổng Tư lệnh khẳng định người Việt Nam từng đánh bại phát xít Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chắc chắn sẽ giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu này. Ông kêu gọi báo chí, đài phát thanh Cuba cung cấp thông tin liên tục và yêu cầu nhân dân phải chuẩn bị sẵn sàng cho tất cả mọi thứ như tinh thần những ngày khủng hoảng tháng Mười năm xưa, tăng cường sự đoàn kết, lương tâm nhưng giữ vững sự bình tĩnh cách mạng, cùng hô vang quyết tâm: “Chủ nghĩa Quốc tế vô sản muôn năm! Nhân dân Việt Nam anh hùng muôn năm! Tổ quốc hay là chết, Chúng ta nhất định thắng!”

Sự thủy chung đó kiên định đi qua các thập niên sau, được đúc kết trang trọng trong thư chúc mừng ngày 03/02/1983 gửi đồng chí Lê Duẩn nhân kỷ niệm 53 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ca ngợi Việt Nam vươn cao trong lịch sử như một người cách mạng  đã góp phần vô giá vào sự nghiệp tự do toàn thế giới và khẳng định sự ủng hộ hoàn toàn của Cuba đối với đường lối chính trị sáng suốt của đội tiền phong được rèn luyện bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tiếp đó, vào tháng 12/1985, nhân kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, trong điện mừng gửi Đảng và Chính phủ Việt Nam, ông nhấn mạnh mối quan hệ anh em được tăng cường trong khói lửa đương đầu với cuộc xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và khẳng định sự phát triển này là bằng chứng rõ nét của tình hữu nghị vững chắc, tình đoàn kết chiến đấu dựa trên nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Cuối cùng, vào ngày 03/12/1990, nhân cột mốc 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, bức điện của Fidel Castro gửi tới Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đưa ra lời đúc kết trang trọng về tình đoàn kết được tôi luyện trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, khẳng định sự sẵn sàng phát triển hợp tác vì lợi ích của nhân dân hai nước hướng tới một tương lai phồn vinh, tốt đẹp.

Thông qua tiến trình rà soát và phân tích hệ thống tài liệu gốc theo trình tự thời gian, khoa học lịch sử cho phép chúng ta rút ra những nhận định tổng kết mang tính bản chất và sâu sắc về sự ủng hộ vĩ đại của lãnh tụ Fidel Castro dành cho đất nước Việt Nam:

Thứ nhất, sự nhất quán về lập trường chính trị vượt thời gian: Sự ủng hộ của Fidel Castro không phải là một giải pháp tình thế mang tính chiến thuật hay vụ lợi địa chính trị, mà là một đường lối chiến lược xuyên suốt kéo dài liên tục qua nhiều thập kỷ, vững vàng vượt qua mọi cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất của hệ thống quốc tế. Từ một quốc gia còn nhiều khó khăn, Fidel đã chuyển hóa tình cảm thành những hành động viện trợ vô điều kiện, sẵn sàng đặt lợi ích xương máu của người anh em lên trên lợi ích vật chất thông thường của quốc gia mình.

Thứ hai, tầm nhìn chiến lược thiên tài và khả năng nhận diện lịch sử vượt trội: Fidel Castro sở hữu một tư duy nhạy bén khi nhận diện chính xác bản chất anh hùng và tất thắng của Cách mạng Việt Nam từ rất sớm, ngay cả khi đối phương đang ở đỉnh cao sức mạnh quân sự. Ông không nhìn nhận Việt Nam như một thực thể đơn lẻ, mà coi Việt Nam là ngọn cờ đầu, là bài học phi thường mang tính lý luận và thực tiễn lớn cho phong trào giải phóng dân tộc, có đóng góp vô giá trong việc cột chặt nanh vuốt của chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi toàn cầu.

Thứ ba, sự hiện thực hóa mẫu mực chủ nghĩa quốc tế vô sản bằng hành động: Hệ thống tư liệu chứng minh Fidel Castro đã tiếp thu và thấu hiểu sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định tính đúng đắn của việc kết hợp giữa độc lập dân tộc và giải phóng xã hội. Lời thề sẵn sàng hiến dâng cả máu trong chiến tranh và sẵn sàng đổ mồ hôi trong hòa bình của Fidel Castro đã đưa chủ nghĩa quốc tế vô sản từ một khái niệm lý luận thuần túy trở thành một biểu tượng hành động sống động bằng xương bằng thịt, khắc bản hùng ca bất tử vào lịch sử nhân loại, để lại di sản tinh thần vô giá cho các thế hệ mai sau của hai dân tộc Cuba và Việt Nam./.


1 Cuba – Việt Nam: Hai dân tộc, một lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sư thật, 2023, Tr19

2 Lưu trữ Lịch sử của Trung ương Đảng – Địa chỉ bảo quản 82-01-1620

1 Cuba – Việt Nam: Hai dân tộc, một lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sư thật, 2023, Tr 22-23

1 Cuba – Việt Nam: Hai dân tộc, một lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sư thật, 2023), Tr 24-26

2 Cuba – Việt Nam: Hai dân tộc, một lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sư thật, 2023, Tr26-28

1 Cuba – Việt Nam: Hai dân tộc, một lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sư thật, 2023, Tr41-47

1 Cuba – Việt Nam: Hai dân tộc, một lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sư thật, 2023, Tr62

1 50 năm nhớ lại và suy ngẫm, Báo Thế giới và Việt Nam, tháng 9 năm 2023

1 Cuba – Việt Nam: Hai dân tộc, một lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sư thật, 2023, Tr72-81

Viện Kinh tế, Văn hoá và Nghệ thuật