Qua nguồn các tài liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cuba chúng ta được tiếp cận với một hệ thống quan điểm lý luận và thực tiễn rất sâu sắc, thể hiện nhãn quan ngoại giao chiến lược, phương pháp luận cách mạng khoa học và một tình cảm quốc tế nồng ấm, thủy chung của vị lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam.
Chuyên luận này nhằm mục đích hệ thống hóa, phân tích toàn diện và sâu sắc toàn bộ nội dung nguồn tư liệu lịch sử nói trên theo diễn tiến thời gian và các chiều kích không gian chính trị. Qua đó, chúng ta không chỉ thấy được những chỉ đạo mang tính nguyên tắc về mặt chiến lược của Người đối với các mối quan hệ quốc tế, mà còn cảm nhận được một cách sâu sắc tâm hồn của một vĩ nhân cách mạng luôn hướng về đồng bào, đồng chí và bầu bạn khắp năm châu với một sự đồng cảm. Từ những bức thư mang tính nghi lễ ngoại giao nhưng chứa đựng tình cảm gia đình ấm áp, những bài nói chuyện chuyên sâu về nghiệp vụ an ninh cách mạng với Đoàn Công an Cuba, cho đến cuộc phỏng vấn cuối cùng mang tính định mệnh với nhà báo Marta Rojas, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện lên như một kiến trúc sư của tình hữu nghị Việt Nam Cuba, một biểu tượng của ý chí tự lực cánh sinh kết hợp với sức mạnh đoàn kết quốc tế đỉnh cao.
Khởi nguồn tình anh em xuyên đại dương và khát vọng tự do
Để hiểu được tầm vóc của mối quan hệ Việt Nam Cuba, trước hết cần phải đặt nó vào tọa độ thời gian của những năm đầu thập niên 1960. Đây là thời điểm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Cuba vừa giành được thắng lợi vẻ vang, lật đổ chế độ độc tài Batista, thiết lập nên nhà nước dân chủ nhân dân tiến lên xã hội chủ nghĩa ngay tại Tây bán cầu, ngay trước mũi của đế quốc Mỹ. Đối với nhân dân Việt Nam, lúc này miền Bắc đang bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và miền Nam đang tiến hành cuộc đấu tranh đầy gian khổ chống lại sự can thiệp của thực dân mới. Sự đồng điệu về số phận lịch sử và kẻ thù chung đã kéo hai dân tộc lại gần nhau.
Năm 1966, đồng chí Raul Castro khi đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Cuba sang thăm Việt Nam và có cuộc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Tư liệu.
Bức bức "Thư gửi nhân dân Cuba" viết ngày 1 tháng 6 năm 1960 được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thay mặt cho nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để gửi đến Chính phủ, Quân đội và nhân dân Cuba anh em. Ngay từ những dòng mở đầu, Người đã sử dụng đại từ xưng hô đầy thân thương và gần gũi: "Anh em Cuba thân mến". Đây không phải là ngôn từ của một nghi thức ngoại giao hành chính thông thường mà là tiếng gọi của tình đồng chí, tình ruột thịt.
Trong bức thư này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một luận điểm mang tính cốt lõi về bản chất của mối quan hệ song phương:
"Tuy hai nước chúng ta cách nhau hàng vạn dặm, nhân dân Việt Nam luôn luôn gần gũi nhân dân Cuba anh em trong cuộc đấu tranh anh dũng chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ, giữ gìn độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân1."
Luận điểm này chứa đựng hai nội dung lý luận ngoại giao quan trọng. Thứ nhất, khoảng cách địa lý (hàng vạn dặm) hoàn toàn bị xóa nhòa bởi sự tương đồng về mục tiêu chính trị và lý tưởng cách mạng. Thứ hai, sự liên kết giữa hai nước được xây dựng trên nền tảng của một cuộc đấu tranh chung mang tính thời đại: chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ để bảo vệ độc lập, tự do.
Cũng trong văn bản ngày 1 tháng 6 năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi lời chúc sức khỏe đến Tổng thống, bác sĩ Osvaldo Dorticós Torrado và Thủ tướng Fidel Castro. Người viết: "Kính chúc Tổng thống, bác sĩ Đoócticốt và Thủ tướng Phiđen Cátxtơrô luôn luôn mạnh khỏe. Chúc nhân dân và quân đội Cuba anh em nhiều thắng lợi và nhiều hạnh phúc. Chúc tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước chúng ta ngày càng bền vững2.".
Một chi tiết đặc biệt và sâu lắng ở cuối bức thư, kết tinh phong cách ngoại giao nhân văn của Hồ Chí Minh, đó là dòng chữ: "Bác Hồ gửi các cháu thanh niên và nhi đồng Cuba nhiều cái hôn3.". Đối với một nhà chính trị, việc đưa tình cảm dành cho thế hệ mầm non của một quốc gia khác vào trong một văn kiện chính thức thể hiện tầm nhìn xa trông rộng về việc xây dựng nền móng hữu nghị vững chắc cho các thế hệ mai sau. Những "cái hôn" xuyên đại dương của Người đã trở thành một biểu tượng tinh thần, gieo vào lòng thế hệ trẻ Cuba tình yêu thương và sự gắn bó mật thiết với đất nước Việt Nam xa xôi.
Phương pháp luật cách mạng và nghệ thuật lấy dân làm gốc
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, sự giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa hai nước được đẩy mạnh trên nhiều mặt trận, trong đó có mặt trận bảo vệ an ninh cách mạng. Bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đoàn Công an Cuba là một văn bản có giá trị lý luận lý học và thực tiễn to lớn. Tại đây, Người đã phân tích sâu sắc các quy luật của cuộc đấu tranh giai cấp, công tác quần chúng và nghệ thuật bảo vệ chế độ.
Mở đầu bài nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tính tất yếu của việc trao đổi kinh nghiệm giữa các quốc gia cùng chung chiến hào cách mạng. Người nhận định: "Công an Cuba có nhiều kinh nghiệm giới thiệu cho công an Việt Nam. Công an Việt Nam cũng giới thiệu một số kinh nghiệm cho công an Cuba. Hai bên học tập lẫn nhau1.". Tuy nhiên, ngay lập tức, Người đưa ra một lời cảnh báo mang tính phương pháp luận nghiêm túc:
"Nhưng khi học tập lẫn nhau phải sáng tạo. Kinh nghiệm cách mạng các nước phải học tập lẫn nhau. Phải học tập và sáng tạo. Học tập và sáng tạo đi liền với nhau2."
Theo tư tưởng của Người, cách mạng không có khuôn mẫu định sẵn. Việc sao chép máy móc kinh nghiệm của nước khác, dù đó là một nước anh em, mà không tính đến những đặc thù về lịch sử, kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của nước mình sẽ dẫn đến những sai lầm giáo điều. Sáng tạo chính là việc biết vận dụng những nguyên tắc chung vào những điều kiện cụ thể một cách linh hoạt và hiệu quả nhất.
Để làm rõ hơn tầm quan trọng của tinh thần sáng tạo và bản chất của cuộc đấu tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích một quy luật sâu sắc về đối phương. Người chỉ ra rằng, trong cuộc đối đầu này, kẻ địch cũng không ngừng rút kinh nghiệm và cải tiến phương pháp công tác của chúng. Người dẫn chứng:
"Mỹ có học tập kinh nghiệm của Mã Lai, mời Thiếu tướng cảnh sát Anh Thomxơn ở Mã Lai sang giúp cảnh sát miền Nam, cử Lanxdan, một tên chỉ huy đã thành công trong việc đàn áp du kích Philíppin sang Việt Nam để giúp bọn tay sai miền Nam. Hai tên này đã có kinh nghiệm thành công ở Mã Lai và Philíppin. Mỹ cũng học tập kinh nghiệm của bọn Nhật và bọn Pháp. Nhật có cử cố vấn bí mật giúp cho bọn Mỹ. Chính phủ Pháp không giúp Mỹ, nhưng có những tên Pháp giúp Mỹ."
Hệ thống dẫn chứng lịch sử này cho thấy kẻ thù có một mạng lưới trao đổi kinh nghiệm ranh ma và tàn bạo, tập hợp những kẻ sừng sỏ nhất trong việc đàn áp các phong rào du kích trên thế giới. Chúng trang bị những phương tiện kỹ thuật tối tân nhất và áp dụng những biện pháp tinh vi nhất. Thế nhưng, kết cục cuối cùng của chúng vẫn là sự sụp đổ. Người giải thích nguyên nhân cốt lõi bằng một nhận định mang tính chân lý:
"Dù có học tập kinh nghiệm cải tiến công tác gì đi nữa cũng không lấy được lòng dân, vì bản chất của chúng là chống lại nhân dân... Bọn Ngô Đình Diệm đề ra cải cách ruộng đất để lấy lòng dân, nhưng vì chủ trương của nó là giả tạo, nên Diệm đổ và những tên tiếp sau nó cũng đổ."
Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đối chiếu với công tác công an cách mạng. Người khẳng định có những bí mật trong cuộc đấu tranh mà hai bên giấu nhau, nhưng có một điều ta không hề giấu mà kẻ địch vẫn không thể nào học nổi, đó chính là học lấy lòng dân. Nhân dân chính là cái gốc của cách mạng, là bức tường thành kiên cố nhất bảo vệ chế độ. Kẻ địch với bản chất bóc lột và áp bức thì vĩnh viễn không bao giờ có thể có được lòng dân, và đó chính là điểm yếu chí mạng không thể cứu vãn của chúng.
Tiếp tục phát triển mạch lý luận về vai trò của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh công tác công an là rất cần thiết, rất quan trọng nhưng đồng thời cũng rất khó khăn, khi phải đối phó với những cơ quan tình báo, gián điệp đế quốc nguy hiểm như CIA. Người đưa ra một nguyên tắc hành động tối cao:
"Công tác công an phải gắn chặt với đường lối chính trị của Đảng. Nếu thoát ly đường lối chính trị của Đảng, thì dù khéo mấy cũng không kết quả. Do đó, công tác công an phải dựa vào quần chúng. Cũng giống như quân sự cũng phải dựa vào dân, công an cũng phải dựa vào dân."
Người cụ thể hóa phương pháp dựa vào dân thông qua việc giáo dục và tuyên truyền để "quản lý tốt tai, mắt, miệng của dân, làm thế nào dân giúp công an để phát hiện địch và giấu địch những điều của ta. Nói cho địch là phải nói dối, nói cho ta thì nói thật. Mắt để phát hiện địch. Tai cũng vậy. Tổ chức tốt quần chúng để giấu không cho địch biết và bảo vệ ta.". Đây chính là nghệ thuật tổ chức nhân dân thành một khối thống nhất, biến mỗi người dân thành một chiến sĩ an ninh trên mặt trận thầm lặng.
Người thẳng thắn phân tích số liệu thực tế của Cuba để đưa ra một lời khuyên chân thành mang tính chiến lược:
"Ví dụ: Công an Cuba có 10 vạn cán bộ, chiến sĩ và 100 vạn người tích cực giúp đỡ công an, như thế vẫn chưa đủ, vì trong số 7 triệu mà chỉ 1 triệu giúp chưa đủ, phải cả 7 triệu giúp."
Con số 100 vạn người giúp đỡ trên tổng số 7 triệu dân là một tỷ lệ rất cao, chứng tỏ sức mạnh của cách mạng Cuba. Tuy nhiên, với tư duy của một nhà chiến lược toàn dân, Hồ Chí Minh cho rằng như thế vẫn chưa đủ. Bản chất của một nền an ninh cách mạng xã hội chủ nghĩa là phải đạt đến sự tham gia của toàn dân, tức là "phải cả 7 triệu giúp". Đối với Việt Nam, Người cũng thể hiện một thái độ nghiêm khắc và cầu tiến: "Đối với công an Việt Nam có làm được một số việc, có một số kết quả, nhưng Bác chưa bằng lòng vì trong công tác còn sơ hở, do đó cần cố gắng nhiều, cần phải học nữa.". Từ đó, Người đúc kết thành một khái niệm lý luận vô giá:
"Vấn đề dựa vào dân, công an phải có thiên la địa võng như trong chiến tranh du kích có thiên la địa võng về quân sự."
Hệ thống "thiên la địa võng" bằng lòng dân chính là vũ khí vô địch, khiến cho bất kỳ thế lực tình báo, gián điệp tinh vi nào khi chui vào bờ cõi đều phải bị phát hiện và tiêu diệt.
Đấu tranh giai cấp và chính sách quần chúng trong thời kỳ quá độ
Một trong những nội dung thể hiện tư duy lý luận chính trị sắc bén và thực tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nhìn nhận thẳng thắn về tính chất phức tạp, lâu dài của cuộc đấu tranh giai cấp sau khi cách mạng đã giành được chính quyền. Người khẳng định nhân dân ở cả Cuba và Việt Nam đều rất tốt, khi được giải phóng và đem lại quyền lợi, họ biết so sánh giữa chế độ cũ và chế độ mới nên hết lòng yêu mến, ủng hộ chế độ. Tuy nhiên, Người lưu ý cán bộ chiến sĩ không được chủ quan, không được rơi vào ảo tưởng rằng 100% mọi người đều ủng hộ cách mạng. Người đưa ra một tỷ lệ thực tế: khoảng trên 95% ủng hộ ta, còn 5% chưa ủng hộ.
Người phân tích một cách sâu sắc về bản chất tư tưởng của giai cấp bóc lột cũ:
"Ví dụ: Những phần tử tư sản bị tịch thu tài sản không ủng hộ ta. Bọn địa chủ bị tịch thu ruộng đất không ủng hộ ta. Ta có thể tịch thu nhà máy của chúng nhưng không tịch thu được bộ óc nó. Ta có thể cải tạo kinh tế của chúng, nhưng khó cải tạo đầu óc của chúng. Nên khi nào ta mạnh chúng nằm im, nếu ta yếu thì chúng trỗi dậy. Do đó phải rất cảnh giác."
Luận điểm "ta có thể tịch thu nhà máy của chúng nhưng không tịch thu được bộ óc nó" là một đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận Mác - Lênin về thời kỳ quá độ. Việc thay đổi cơ sở hạ tầng kinh tế bằng các biện pháp hành chính pháp lý là điều có thể hoàn thành trong một thời gian nhất định, nhưng việc cải tạo thượng tầng tư tưởng, tâm lý, bản chất bóc lột tích tụ qua nhiều thế hệ là một quá trình rất gian khổ, lâu dài và phức tạp. Những phần tử này luôn có tâm lý hoài cổ, oán hận cách mạng và luôn rình rập cơ hội để trỗi dậy phá hoại. Vì vậy, sự cảnh giác cách mạng là một yêu cầu bắt buộc và liên tục, không được phép lơ là dù chỉ một phút.
Để chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn với các đồng chí Cuba, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên cách thức giải quyết vấn đề tôn giáo, một vấn đề nhạy cảm mà các thế lực đế quốc thường xuyên lợi dụng để kích động quần chúng chống lại chính quyền cách mạng. Tại Việt Nam, đặc biệt là ở những vùng đồng bào theo Thiên Chúa giáo, Người chỉ rõ phương pháp luận thành công:
"Nơi nào cán bộ tốt, tổ chức hợp tác xã đưa lại quyền lợi cho giáo dân thì giáo dân rất đồng tình... Giáo dân dễ dàng phân biệt: Khi chưa giải phóng, giai cấp địa chủ, nhà thờ bóc lột nông dân giáo dân2."
Để minh chứng cho sức mạnh của chính sách an dân và giáo dục quần chúng, Người kể lại một câu chuyện lịch sử đầy cảm động về một cụ già ở Nghệ An:
"Ví dụ: 1 cụ già sống 120 tuổi ở Nghệ An, khi sống đến 110 tuổi thì cải cách ruộng đất ở Nghệ An, sau cải cách ruộng đất mới được ăn thử miếng đường đầu tiên, nghĩa là trong 110 năm trước chưa được ăn đường. Sau giải phóng, sau cải cách ruộng đất, trong làng có nhiều nhà ngói, đời sống được nâng cao, có nhà y tế...1"
Hình ảnh cụ già 110 năm sống trong nghèo đói, tăm tối dưới chế độ cũ, lần đầu tiên được ăn một miếng đường sau cải cách ruộng đất là một bằng chứng sống động, có sức thuyết phục hơn muôn vàn lời nói lý thuyết suông. Khi cách mạng mang lại những quyền lợi vật chất và tinh thần thực sự cho người dân, như nhà ngói, cơ sở y tế, cuộc sống ấm no, người dân sẽ tự khắc nhận thức được bản chất nhân đạo của chế độ mới. Từ sự giác ngộ đó, đồng bào giáo dân sẽ biết cách ứng xử đúng đắn giữa nghĩa vụ công dân và niềm tin tôn giáo:
"Nếu giáo dục tốt thì giáo dân có thể đấu tranh: Cha chỉ nói phần hồn thôi, còn phần đời thì để cho Chính phủ. Một số địa phương, giáo dân có câu: Sống theo Đảng, chết theo Chúa. Đối với người cộng sản thì nếu họ nói chết rồi theo Chúa thì không sao2."
Cách tiếp cận của Người thể hiện một sự bao dung đại độ, sự tôn trọng sâu sắc tự do tín ngưỡng của nhân dân. Bản chất của vấn đề không phải là xóa bỏ tôn giáo bằng các biện pháp hành chính khiên cưỡng, mà là quy tụ lòng dân về một mối thông qua việc chăm lo đời sống thực tế cho họ. Người đúc kết thành một châm ngôn chính trị:
"Ta quan tâm đời sống quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta. Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác. Ví dụ: Trong việc bắt gián điệp biệt kích cũng nhờ có dân3."
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý các đồng chí Cuba về phương pháp tuyên truyền, vận động quần chúng. Do trình độ học vấn và nhận thức của đại đa số quần chúng nhân dân lao động lúc bấy giờ còn ở mức độ nhất định, người cán bộ cách mạng khi làm việc với dân phải biết cách chuyển hóa các lý luận phức tạp thành những điều "đơn giản, gọn" để dân dễ hiểu, dễ nhớ và dễ làm theo.
Người dẫn chứng kinh nghiệm thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hoạt động bí mật:
"Trong thời kỳ hoạt động bí mật áp dụng khẩu hiệu 3 không, quần chúng hiểu và làm được, đồng thời phát huy sáng tạo của mình, ví dụ khi địch rải gio, căng dây, để phát hiện cán bộ, thì quần chúng đã bảo vệ cán bộ và kẻ địch không phát hiện được cán bộ1."
Khẩu hiệu "3 không" ngắn gọn đã trở thành vũ khí tự vệ sắc bén của quần chúng. Khi lòng dân đã đồng thuận và trí sáng tạo của nhân dân được khơi dậy, họ sẽ tự tìm ra hàng ngàn biện pháp mưu trí để qua mặt các phương tiện kiểm soát, lùng sục tinh vi của kẻ thù, bảo vệ an toàn cho lực lượng cách mạng.
Sự tương đồng địa chính trị và tình đoàn kết trên tuyến đầu chống đế quốc
Trong các bài nói chuyện và phát biểu của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành một sự quan tâm đặc biệt đến việc phân tích bối cảnh địa chính trị của Cuba. Người thấu hiểu sâu sắc những khó khăn, thách thức to lớn mà hòn đảo tự do phải đối mặt do vị trí địa lý đặc thù. Người nhận định:
"Hoàn cảnh Cuba có phần khó hơn Việt Nam. Đất đai hẹp hơn Việt Nam, xung quanh đều là biển, lại gần đế quốc Mỹ. Nếu Mỹ xâm nhập thì có nhiều chỗ thuận tiện. Tuy có khó, nhưng cách mạng Cuba thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi. Cuba là cái ngòi và là bước đầu cho cách mạng Mỹ Latinh thành công2."
Sự phân tích này cho thấy tầm nhìn chiến lược toàn cầu của Người. Khác với Việt Nam có hậu phương lớn là các nước xã hội chủ nghĩa lục địa nối liền, Cuba hoàn toàn bị bao bọc bởi đại dương và nằm sát cạnh sào huyệt của kẻ thù. Việc cách mạng Cuba giành thắng lợi và đứng vững trong một hoàn cảnh địa chính trị ngặt nghèo như vậy là một kỳ tích lịch sử, biến quốc gia này thành "cái ngòi" kích hoạt phong trào giải phóng dân tộc trên khắp lục địa Mỹ Latinh.
Người bày tỏ lòng ngưỡng mộ chân thành của nhân dân Việt Nam đối với chiến công của bạn: "Mỹ có 200 triệu, Cuba có 7 triệu dân, nhưng Cuba cách mạng thành công, cho nên nhân dân Việt Nam rất thán phục Cuba. Các đồng chí có quyền hoàn toàn tự hào, nhưng đừng tự mãn. Mà rất cần cảnh giác.". Lời khuyên "đừng tự mãn" và "rất cần cảnh giác" thể hiện sự lo lắng, chăm chút của một người anh đi trước dành cho người em của mình, bởi vì kẻ thù bên ngoài và kẻ thù bên trong luôn tìm mọi cách phá hoại. Người nhắc nhở: "Kẻ địch ít nhưng rất nguy hiểm: Ví dụ, xây dựng một căn nhà cần nhiều người nhưng chỉ cần một người có thể phá nhà3.".
Một điểm cốt lõi trong tư duy chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc nhìn nhận cuộc đấu tranh của Việt Nam và Cuba như hai mặt trận không thể tách rời của một cuộc chiến tổng thể chống chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi thế giới. Người chỉ ra mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau một cách tự nhiên và khách quan giữa hai chiến trường:
"Tuy căm thù Cuba nhưng trước mắt, Mỹ chưa phải phát động chiến tranh chống Cuba ngay, vì đế quốc Mỹ còn vướng cẳng ở Việt Nam; chưa dám tấn công Cuba, nhưng nó tích cực phá hoại, cho nên cần cảnh giác1."
Luận điểm "đế quốc Mỹ còn vướng cẳng ở Việt Nam" phản ánh một thực tế lịch sử sinh động. Cuộc kháng chiến anh dũng, kiên cường của nhân dân Việt Nam ở cả hai miền đã thu hút, kìm chân và tiêu hao một khối lượng lớn sinh lực, vũ khí và tài chính của đế quốc Mỹ, khiến chúng không còn đủ khả năng và điều kiện để liều lĩnh mở thêm một mặt trận chiến tranh xâm lược tổng lực chống lại Cuba. Như vậy, bằng việc chiến đấu bảo vệ tổ quốc mình, nhân dân Việt Nam đã thực hiện một nghĩa vụ quốc tế cao cả, trực tiếp chia lửa và che chắn cho hòn đảo tự do Cuba anh em. Ở chiều ngược lại, sự đứng vững kiên cường của Cuba ngay trước mũi bọn đế quốc Bắc Mỹ là một nguồn cổ vũ tinh thần vô giá, một điểm tựa niềm tin vững chắc cho nhân dân Việt Nam.
Tháng 10 năm 1966, giữa lúc cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam đang diễn ra hết sức khốc liệt, một phái đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ nước Cộng hòa Cuba do Tổng thống Osvaldo Dorticós Torrado dẫn đầu, cùng sự tham gia của đồng chí Raul Castro, đã vượt qua muôn dặm trùng dương để sang thăm hữu nghị Việt Nam. Đây là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn, một hành động dũng cảm vô song thể hiện tình đoàn kết chiến đấu thắm thiết.
Trong bài phát biểu tại buổi tiếp Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Cuba, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ niềm vui mừng khôn xiết. Người nhấn mạnh thời điểm đặc biệt của chuyến thăm:
"Các đồng chí đến thăm nước chúng tôi giữa lúc cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam trên cả hai miền bước vào giai đoạn quyết liệt và đang thu được thắng lợi vẻ vang. Từ Mỹ Latinh xa xôi, các đồng chí mang đến cho nhân dân Việt Nam chúng tôi mối tình đoàn kết chiến đấu rất thắm thiết của nhân dân Cuba và nhân dân Mỹ Latinh anh em1."
Người khẳng định sự hiện diện của phái đoàn Cuba là một nguồn động lực tinh thần to lớn, cổ vũ mạnh mẽ quyết tâm của toàn thể nhân dân Việt Nam: "Cuộc đi thăm của các đồng chí nhất định sẽ cổ vũ mạnh mẽ nhân dân cả nước chúng tôi quyết chiến quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược để bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà2.".
Kết thúc bài phát biểu, Người đưa ra những lời hiệu triệu mang tầm vóc quốc tế rộng lớn, liên kết phong trào cách mạng của hai nước với phong trào cách mạng toàn cầu:
"Tình đoàn kết anh em giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Cuba muôn năm! Tình đoàn kết giữa nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa muôn năm! Tình đoàn kết giữa các dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh muôn năm3!"
Tại buổi chiêu đãi trọng thể dành cho đoàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một bài phát biểu sâu sắc, nhìn lại chặng đường lịch sử đầy oanh liệt của cách mạng Cuba. Người nhắc lại sự kiện trọng đại cách đó gần tám năm:
"Cách đây gần tám năm, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng dân tộc Phiđen Cátxtơrô, nhân dân Cuba, bằng cuộc đấu tranh vũ trang lâu dài và gian khổ, đã lật đổ chế độ độc tài của Batixta, tên đầy tớ của đế quốc Mỹ và đưa cách mạng Cuba đến thắng lợi vẻ vang, dựng lên một nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở châu Mỹ. Cách mạng Cuba thành công đã nêu cao ngọn cờ bách chiến bách thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Tây bán cầu và đã cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh vì độc lập và tự do của nhân dân Mỹ Latinh4."
Đoạn văn này là một sự đánh giá lý luận cao quý của Hồ Chí Minh đối với vai trò của Lãnh tụ Fidel Castro và tầm vóc thời đại của cách mạng Cuba. Người ca ngợi những chiến công hiển hách của nhân dân bạn trong việc "đánh đuổi bọn xâm lược Mỹ ở bãi biển Hirôn, chiến thắng cuộc bao vây kinh tế và đập tan mọi âm mưu khiêu khích và phá hoại của đế quốc Mỹ". Những thắng lợi đó được Người coi như chính thắng lợi của nhân dân Việt Nam.
Cũng trong bài phát biểu này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông báo cho các đồng chí Cuba về cục diện chiến trường Việt Nam. Người vạch trần bản chất ngoan cố và điên cuồng của đế quốc Mỹ khi chúng liên tục leo thang chiến tranh. Người thẳng thắn lên án các thủ đoạn lừa bịp của đối phương:
"Gần đây, bọn xâm lược Mỹ và chư hầu đã họp Hội nghị Manila nhằm bán rao hoà bình bịp bợm, nhưng thực tế là để tăng cường chiến tranh. Chúng thật là chủ quan và ngu ngốc! Chúng không thể nào lừa bịp được dư luận thế giới bằng những luận điệu láo xược và vô lý của chúng. Bộ mặt ăn cướp của đế quốc Mỹ càng bị nhân dân thế giới phỉ nhổ và vạch trần1."
Trước những âm mưu đó, Người khẳng định lập trường chính trị nhất quán, kiên quyết và không bao giờ lay chuyển của nhân dân Việt Nam, đó là độc lập thật sự phải đi liền với hòa bình thật sự. Lập trường đó được cụ thể hóa bằng "4 điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và 5 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam". Người tuyên bố bằng một ý chí sắt đá:
"Vì độc lập của Tổ quốc, vì nghĩa vụ đối với các dân tộc đang chống đế quốc Mỹ, vì an ninh của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, nhân dân cả nước chúng tôi đoàn kết một lòng, không sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn2."
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự giúp đỡ chí tình, vô điều kiện của Đảng, Chính phủ và nhân dân Cuba. Người nhắc lại lời cam kết thiêng liêng của Lãnh tụ Fidel Castro và các nhà lãnh đạo Cuba, một lời tuyên bố đã làm rung động hàng triệu trái tim Việt Nam: "Đồng chí Phiđen Cátxtơrô và các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Chính phủ Cuba đã nhiều lần tuyên bố rằng vì Việt Nam, nhân dân Cuba sẵn sàng hiến dâng cả đến dòng máu của mình3.".
Để đáp lại tình cảm cao quý đó, Người khẳng định Việt Nam từ trước đến nay luôn triệt để ủng hộ lập trường 5 điểm của Chính phủ Cuba trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người bày tỏ một niềm tin vào sức mạnh của sự đoàn kết song phương, được đúc kết qua câu khẩu hiệu kinh điển của nhân dân Cuba: "Việt Nam, Cuba đoàn kết, chúng ta nhất định thắng!"
Trong buổi lễ tiễn phái đoàn Cuba, lòng Người trào dâng một cảm xúc lưu luyến sâu sắc. Người gửi lời chào thân ái, lời cảm ơn chân thành đến toàn thể nhân dân Cuba, đến Đảng và Chính phủ Cuba, cùng đồng chí Fidel Castro kính mến. Một lần nữa, phong cách ngoại giao nồng ấm của Người lại được thể hiện khi Người viết: "Tôi cũng gửi đến các cháu thanh niên và nhi đồng Cuba nhiều cái hôn của Bác Hồ." và kết thúc bằng câu tạm biệt bằng tiếng Tây Ban Nha đầy thân thương: "Hasta la vista".
Nghiên cứu các bức điện văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hai năm cuối đời (1968 - 1969), chúng ta thấy hiện lên hình ảnh một vị lãnh tụ dù bận trăm công nghìn việc, dù sức khỏe đã suy giảm, nhưng vẫn luôn theo dõi sát sao từng bước đi của cách mạng Cuba và duy trì mối liên lạc thường xuyên, ấm áp với các nhà lãnh đạo bạn.
Ngày 28 tháng 11 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi một bức điện tới đồng chí Melba Hernández, Chủ tịch Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam. Bức điện được viết ngay sau khi nhân dân Việt Nam giành được một thắng lợi chiến lược quan trọng: buộc đế quốc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom, bắn phá trên toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong niềm vui chiến thắng, điều đầu tiên Người nghĩ đến là sự tri ân đối với những người bạn quốc tế. Người viết:
"Tôi chân thành cảm ơn đồng chí về những lời chúc mừng nhiệt liệt nhân dịp nhân dân Việt Nam chúng tôi đã thắng lợi trong việc buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá trên toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi này và những thắng lợi trước đây của chúng tôi đều gắn với sự ủng hộ và giúp đỡ tận tình của Đảng, Chính phủ và nhân dân Cuba anh em cũng như của anh em, bầu bạn khắp năm châu1."
Lời khẳng định này chỉ ra rằng, mỗi một chiến công của Việt Nam trên chiến trường không bao giờ là kết quả riêng rẽ của nội lực, mà nó là sự kết tinh của sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, trong đó sự ủng hộ của Cuba đóng vai trò như một nhân tố rất quan trọng.
Vào ngày 16 tháng 4 năm 1969, nhân dịp mừng lần thứ 50 ngày sinh của Tổng thống nước Cộng hòa Cuba Osvaldo Dorticós Torrado, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi một bức điện chúc mừng nồng nhiệt từ Hà Nội. Bức điện được viết thay mặt cho nhân dân Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhân danh cá nhân Người.
Người viết những lời chúc đầy chân thành và mang tính định hướng chiến lược:
"Tôi chân thành chúc đồng chí dồi dào sức khoẻ để cùng với các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cuba hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống mọi âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, bảo vệ nền độc lập và chủ quyền dân tộc của nước Cuba xã hội chủ nghĩa. Chúc tình đoàn kết chiến đấu và sự hợp tác anh em giữa hai nước chúng ta ngày càng củng cố và phát triển1."
Bức điện này cho thấy, ngay cả trong những lời chúc mừng cá nhân, Hồ Chí Minh luôn đặt mục tiêu tối cao của hai quốc gia là xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống đế quốc lên hàng đầu, biến mối quan hệ cá nhân giữa các nhà lãnh đạo thành chất keo gắn kết vận mệnh của hai dân tộc.
Ngày 14 tháng 7 năm 1969, tại ngôi nhà sàn trong khu Phủ Chủ tịch, một cuộc gặp gỡ lịch sử đã diễn ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp và trả lời phỏng vấn nữ đồng chí Marta Rojas, phóng viên của tờ báo Granma, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Cuba. Đây là một thời điểm rất đặc biệt, chỉ đúng 52 ngày trước khi vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam bước vào cuộc đại tạ thế. Bài tường thuật buổi phỏng vấn này sau đó đã được in bằng tiếng Tây Ban Nha trên báo Granma vào ngày 29 tháng 7 năm 1969 với tiêu đề đầy xúc động: "Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi".
Mở đầu buổi trò chuyện, Người chào nhà báo Cuba bằng một câu tiếng Tây Ban Nha thân thiện: "BUENOS DIAS". Khi Marta Rojas hỏi về tình cảm của Người đối với hai miền đất nước, Người đã trả lời bằng những lời lẽ mộc mạc nhưng chứa đựng một tầm vóc vĩ đại, một sự hy sinh:
"Đồng chí muốn biết tình cảm của tôi đối với miền Bắc và đối với miền Nam phải không? Tôi yêu đồng bào ở miền Bắc cũng như yêu đồng bào ở miền Nam. Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi... Ở Việt Nam có một câu nói phổ biến: miền Nam đi trước về sau. Câu nói này có nghĩa là miền Nam đấu tranh trước tiên chống quân xâm lược nước ngoài, nhưng miền Bắc lại được giải phóng trước, còn miền Nam sẽ được giải phóng sau. Miền Bắc được giải phóng 25 năm rồi nhưng suốt cả thời gian ấy, miền Nam không được hưởng lấy một ngày hoà bình2."
Nỗi đau đau đáu về miền Nam ruột thịt được Người diễn tả bằng một sự đồng cảm với nỗi đau của từng người dân:
"Ở miền Nam Việt Nam, những người dưới 25 tuổi không biết nghĩa chữ Tự do. Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi. Tôi nghĩ rằng tôi chưa làm trọn nghĩa vụ cách mạng của tôi đối với đồng bào miền Nam; mặc dù như vậy, tôi biết rằng đồng bào miền Nam vẫn yêu quý tôi cũng như tôi luôn luôn yêu quý đồng bào. Ở miền Nam, tôi không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh mà là Bác Hồ1."
Sự tự nhận "chưa làm trọn nghĩa vụ cách mạng" của một vĩ nhân đã hiến dâng trọn vẹn cả cuộc đời, không một chút riêng tư cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, là một minh chứng cao đẹp nhất cho đạo đức cách mạng sáng ngời của Người. Nó làm cho người nghe, người đọc phải nghẹn ngào, xúc động trước tấm lòng bao la như biển cả của một người Cha đối với đàn con đang chịu nhiều đau khổ ở tiền tuyến miền Nam.
Nguồn gốc sức mạnh và ý nghĩa của chủ nghĩa quốc tế
Khi Marta Rojas đặt câu hỏi về nguồn gốc sức mạnh, sự vĩ đại và bền bỉ của nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một câu trả lời mang tính tổng kết lý luận sâu sắc:
"Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và ở sự ủng hộ của nhân dân thế giới, ví dụ như sự ủng hộ của nhân dân Cuba anh em2."
Người giải thích thêm về mối quan hệ biện chứng giữa tự lực cánh sinh và đoàn kết quốc tế:
"Sự đoàn kết quốc tế có một ý nghĩa to lớn đối với chúng tôi. Đúng là trước hết chúng tôi phải dựa vào sức mình, song chúng tôi còn được sự ủng hộ về vật chất và tinh thần của nhân dân các nước khác. Và như vậy, chúng tôi vừa có cả sức mạnh của mình, vừa có cả sức mạnh của sự đoàn kết quốc tế3."
Đây chính là công thức cốt lõi dẫn đến mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nội lực là quyết định, nhưng ngoại lực là rất quan trọng. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố này tạo nên một sức mạnh tổng hợp vô địch. Người đã lấy chính hình ảnh kiên cường của Cuba để làm động lực phấn đấu cho nhân dân Việt Nam:
"Chúng tôi thường tự nhủ: những người anh em Cuba ở ngay trước mũi bọn đế quốc Bắc Mỹ mà vẫn có thể đương đầu được với chúng, thì lẽ nào chúng ta, ở cách xa hàng nghìn dặm, lại không thể đấu tranh chống bọn Yăngki và đánh thắng chúng. Khi nhân dân Cuba ở phía bên kia quả đất tổ chức những cuộc mít tinh và biểu tình đoàn kết với cuộc đấu tranh của chúng tôi, việc đó động viên chúng tôi rất nhiều, nhưng chúng tôi thích nhất vẫn là những bài diễn văn của đồng chí Phiđen1."
Sự trân trọng của Người dành cho những bài diễn văn của Lãnh tụ Fidel Castro cho thấy một sự đồng điệu về mặt tư tưởng giữa hai vị lãnh tụ vĩ đại của thế kỷ XX.
Trong phần cuối của cuộc phỏng vấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chia sẻ đầy tự hào về những tiến bộ trong nông nghiệp của Việt Nam, đặc biệt là việc sử dụng những món quà từ Cuba: "Trước ngày giải phóng, năng suất lúa cao nhất ở đây là ba tấn một héc-ta. Hiện nay, ở tỉnh Thái Bình chẳng hạn, năng suất lúa đã lên đến năm tấn một héc-ta. Một số hợp tác xã nông nghiệp làm ruộng thí nghiệm với giống lúa do đồng chí Phi-đen tặng, đã thu hoạch được mười tấn trên một héc-ta2.". Hạt giống lúa của Fidel trao tặng, qua bàn tay lao động cần cù của người nông dân Việt Nam, đã cho năng suất vượt trội, trở thành một biểu tượng sinh động cho sự đơm hoa kết trái của tình hữu nghị giữa hai nước.
Trước khi kết thúc cuộc đối thoại, Người đã gửi gắm những lời nhắn nhủ sau cùng, mang theo toàn bộ tình cảm ấm áp của mình để chuyển về Cuba:
"Tôi muốn đồng chí chuyển về Cuba những lời sau đây: Tôi vô cùng yêu mến nhân dân Cuba. Tôi xin gửi lời chào đến toàn thể nhân dân Cuba, từ các đồng chí lãnh đạo đến các cháu thiếu nhi. Chúc các bạn luôn luôn mạnh khoẻ và thu được những thắng lợi ngày càng to lớn. Chúc các bạn thu được nhiều thành tựu trong mùa mía mười triệu tấn. Cho tôi gửi những cái hôn nồng nhiệt đến các cháu thiếu nhi và thanh niên. Đồng thời, tôi cũng chúc nhân dân các nước khác ở Mỹ Latinh tự giải phóng khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc Yăngki. Về phần mình, chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh và quyết chiến thắng. Chúng tôi đã nói như vậy và chúng tôi khẳng định lại như vậy. Hasta la vista3."
Lời khẳng định "chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh và quyết chiến thắng" chính là lời tuyên bố đanh thép, là lời thề thủy chung của Hồ Chí Minh gửi đến nhân dân Cuba và toàn thế giới trước khi Người thanh thản đi vào cõi vĩnh hằng.
Sự nhất quán trong việc sử dụng các ngôn từ giàu tính biểu cảm và đậm đà tình nhân văn này cho thấy, đối với Hồ Chí Minh, ngoại giao không phải là một trò chơi chính trị đầy toan tính, mà là nơi thể hiện chân thực nhất những giá trị đạo đức, tình yêu thương con người và lý tưởng giải phóng các dân tộc áp bức trên toàn thế giới.
Toàn bộ hệ thống tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cuba không chỉ có giá trị lịch sử trong những năm tháng chiến tranh bom đạn, mà còn để lại những bài học lý luận và thực tiễn sâu sắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay.
Những chỉ dẫn của Người đối với Đoàn Công an Cuba về việc xây dựng hệ thống "thiên la địa võng" bằng lòng dân vẫn là kim chỉ nam cho công tác an ninh hiện đại. Trong thời đại ngày nay, dù các phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo có phát triển đến đâu, chúng cũng không bao giờ có thể thay thế được vai trò của con người, không thể thay thế được tai mắt của nhân dân. Một khi chính quyền chăm lo tốt đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, có chính sách đúng đắn để tập hợp quần chúng, nhân dân sẽ trở thành lá chắn vững chắc nhất để đập tan mọi âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
Lời nhắc nhở "học tập và sáng tạo đi liền với nhau" của Người có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Trong xu thế toàn cầu hóa, việc tiếp thu những kinh nghiệm tiên tiến, những mô hình phát triển kinh tế, xã hội của các nước trên thế giới là điều cần thiết. Tuy nhiên, nếu rơi vào căn bệnh rập khuôn, rập khuôn máy móc mà không nghiên cứu kỹ lưỡng những đặc điểm tình hình thực tế, văn hóa và con người của đất nước mình thì sẽ chuốc lấy thất bại. Phải biết gạn đục khơi trong, giữ vững những nguyên tắc cốt lõi nhưng linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp thực hiện.
Cuộc phỏng vấn cuối cùng của Người với nhà báo Marta Rojas đã để lại một bài học sâu sắc về tư duy chiến lược: "trước hết chúng tôi phải dựa vào sức mình, song chúng tôi còn được sự ủng hộ về vật chất và tinh thần của nhân dân các nước khác". Bài học về tinh thần tự lực cánh sinh, tự chủ trong đường lối chính trị nhưng luôn trân trọng, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bầu bạn quốc tế luôn là vũ khí sắc bén để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, đồng thời đóng góp tích cực vào sự nghiệp hòa bình, tiến bộ của nhân loại.
Từ những năm 1960 khi hai nước mới thiết lập quan hệ ngoại giao, trải qua những năm tháng thử thách khốc liệt của cuộc chiến tranh những năm 1966, cho đến những giờ phút cuối cùng của cuộc đời Người vào năm 1969, tình hữu nghị Việt Nam Cuba luôn được Người chăm chút, vun đắp bằng tất cả tâm huyết và đạo đức cách mạng trong sáng.
Mối quan hệ này, được khởi nguồn từ tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lãnh tụ Fidel Castro và đồng chí Raul Castro, đã vượt qua mọi giới hạn thông thường của nền địa chính trị để trở thành một mối quan hệ mang tính biểu tượng thời đại. Đó là sự gắn kết của những tâm hồn lớn cùng chung một khát vọng tự do, cùng kề vai sát cánh trên một chiến tuyến chống áp bức, bất công. Những bài học về nghệ thuật lấy lòng dân, sự cảnh giác cách mạng, tinh thần sáng tạo trong công tác và sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội lực với sức mạnh đoàn kết quốc tế mà Người để lại trong tập tư liệu mãi mãi là những tài sản tinh thần vô giá.
Dù thời gian có trôi qua và cục diện thế giới có những thăng trầm biến đổi, di sản ngoại giao Hồ Chí Minh về tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam Cuba vẫn luôn là ngọn đuốc sáng, soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục gìn giữ, phát huy mối thâm tình thủy chung, son sắt này. Đúng như câu khẩu hiệu hành động bất tử mà Người đã trân trọng nhắc lại, một lời khẳng định chứa đựng niềm tin vào chân lý lịch sử: "Việt Nam, Cuba đoàn kết, chúng ta nhất định thắng!"./.
1, 2, 3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, Tập 2, Tr580
1, 2, Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, Tập 15, Tr139-143
1, 2, 3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, Tập 15, Tr139-143
1, 2, 3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, Tập 15, Tr139-143
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, Tập 15, Tr139-143
1, 2, 3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.178-179
4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.188-192
1, 2, 3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.188-192
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.519
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.563
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.674-677
1, 2, 3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.674-677
1, 2, 3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.674-67