Quảng cáo #38

Bản lĩnh chiến lược và tư duy độc lập của Fidel Castro trong cuộc khủng hoảng tháng 10 năm 1962

Trong hệ thống bối cảnh hiện nay của khoa học lịch sử hiện đại, Cuộc khủng hoảng tháng 10 năm 1962, hay còn được biết đến với tên gọi cuộc khủng hoảng tên lửa, vẫn là một trong những đối tượng nghiên cứu trọng điểm nhằm giải mã cấu trúc quyền lực thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Phần lớn các tài liệu thuộc trường phái cũ thường có xu hướng quy giản sự kiện này về một cuộc cờ thế đơn thuần giữa hai siêu cường. Tuy nhiên, một cách tiếp cận toàn diện và khách quan theo phương pháp luận của khoa học lịch sử đòi hỏi phải đặt nhân tố Cuba, đặc biệt là vai trò lãnh đạo chiến lược của Tổng tư lệnh Fidel Castro, vào vị trí trung tâm của tiến trình vận động lịch sử.

Chủ tịch Fidel Castro, ảnh chụp ngày 22-10-1962.

Xét về mặt bản chất, cuộc khủng hoảng không tự nhiên sinh ra từ các tính toán quân sự đơn thuần, mà là kết quả tất yếu của một chuỗi các hành động leo thang mang tính hệ thống từ phía chính quyền Mỹ nhằm bóp nghẹt nền độc lập non trẻ của Cuba. Giới nghiên cứu lịch sử chính trị quốc tế dựa trên tư liệu gốc chỉ ra rằng, thế giới đã phải đứng trước một cuộc chiến tranh hạt nhân do hậu quả trực tiếp từ chính sách xâm lược và tàn bạo của Chính phủ Mỹ chống Cuba. Một kế hoạch xâm lược hòn đảo này với việc sử dụng trực tiếp các lực lượng hải, lục, không quân của Mỹ đã được thông qua khoảng 10 tháng sau trận thất bại thảm hại mà chúng đã gánh chịu ở Girón và khoảng chừng tám tháng trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng. Đối với một quốc gia nhỏ bé, đây là một thách thức mang tính mất còn đối với không gian sinh tồn và quyền tự quyết dân tộc.

Dưới góc nhìn của khoa học lịch sử, tính chính danh trong các hành động của Cuba giai đoạn này được bảo vệ vững chắc bởi các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế về quyền tự vệ chính đáng. Khi một quốc gia đứng trước nguy cơ bị xâm lược bởi một siêu cường có tiềm lực quân sự áp đảo, việc tìm kiếm các phương thức răn đe chiến lược và thiết lập liên minh quân sự không chỉ là một quyền hợp pháp mà còn là trách nhiệm tối cao của người đứng đầu nhà nước đối với vận mệnh của nhân dân. Do đó, việc phân tích sâu sắc các quyết sách của Fidel Castro trong giai đoạn lịch sử hiểm nghèo này sẽ làm sáng tỏ không chỉ bản lĩnh của một nhà cách mạng kiệt xuất, mà còn mang lại những bài học lý luận giá trị về chủ quyền và quan hệ quốc tế hiện nay.

Tư duy chiến lược và quyết sách thiết lập thế cân bằng lực lượng răn đe

Từ cảnh báo ngoại giao đến thực tế địa chính trị quân sự

Tiến trình tiếp nhận và xử lý nguồn tin tình báo về nguy cơ xâm lược của Mỹ cho thấy một năng lực phân tích rất cao của người đứng đầu Chính phủ Cách mạng Cuba. Những người bạn Xôviết đã thu thập được những tin tức chính xác về kế hoạch xâm lược này và đã thông báo cho Cuba về mối nguy cơ đó, mặc dù họ không nói rõ toàn bộ kế hoạch và trên thực tế là không cho biết nguồn tin. Họ chỉ nói rằng họ đã đi tới nhận định như vậy sau cuộc họp giữa Khrútxốp và Kennedy ở Vienna, Áo. Các chi tiết của kế hoạch này phải mãi gần 20 năm sau mới được biết, khi những tài liệu có liên quan được Chính phủ Mỹ cho phép giải mã và công bố. Để thông báo chính thức, phía Liên Xô đã cử Sharaf Rashidov, Bí thư Đảng bộ Udơbêkixtan và Tư lệnh các lực lượng tên lửa chiến lược Liên Xô là Nguyên soái Serguei Biryuzov sang gặp ban lãnh đạo Cuba, trong đó Raúl Castro và Fidel Castro dự cuộc gặp đầu tiên với hai phái viên này.

Tại cuộc hội đàm mang tính bước ngoặt này, sau khi thông báo tin tức, hai phái viên Liên Xô đã hỏi Fidel Castro nghĩ gì về việc cần làm để tránh cuộc tấn công trên. Phản ứng đầu tiên của Fidel Castro mang đậm tư duy ngoại giao chính thống và thượng tôn pháp luật khi ông phản hồi trực tiếp với phái đoàn Liên Xô:

"Các đồng chí hãy ra một tuyên bố công khai cảnh cáo Mỹ, giống như kiểu bọn chúng hay làm trong những tình huống tương tự, tấn công vào Cuba sẽ bị coi như tấn công vào Liên Xô.1"

Fidel Castro đã đưa ra những lý lẽ bảo vệ quan điểm đó một cách chặt chẽ. Lời đề nghị này phản ánh một chiến lược rõ ràng là sử dụng chiếc ô răn đe của Liên Xô như một công cụ công khai trên diễn đàn quốc tế, buộc Mỹ phải cân nhắc cái giá của việc khơi mào một cuộc chiến tranh tổng lực nhằm tôn trọng tối đa thể chế độc lập của Cuba, tránh việc biến hòn đảo thành một tiền đồn quân sự căng thẳng và giữ vững thế chủ động ngoại giao.

Tuy nhiên, giới lãnh đạo quân sự Xô viết lúc bấy giờ lại có những toan tính chiến lược vượt ra ngoài phạm vi phòng thủ thuần túy cho Cuba. Họ suy nghĩ một lát và sau đó nói thêm rằng để chứng tỏ đấy không phải chỉ là một tuyên bố đơn thuần thì cần phải có một số biện pháp cụ thể, từ đó họ đưa ra ý kiến là muốn đặt một số tối thiểu tên lửa tầm trung tại Cuba. Nghiên cứu lịch sử quân sự dựa trên lời kể của Fidel Castro chỉ ra rằng ông đã nhận diện được ngay lập tức ý đồ chiến lược thực sự của Mátxcơva, theo đó rõ ràng là họ muốn giành lợi thế trong so sánh lực lượng giữa Liên Xô và Mỹ. Việc đặt tên lửa tại Cuba sẽ giúp Liên Xô trung hòa lợi thế chiến lược mà Mỹ đang nắm giữ khi đặt được tên lửa ở Thổ Nhĩ Kỳ và Italia, những nước láng giềng của Liên Xô.

Biện chứng của sự lựa chọn giữa lợi ích quốc gia và nghĩa vụ quốc tế

Đối mặt với đề xuất mang tính nhạy cảm cao này, Fidel Castro đã bộc lộ những băn khoăn rất thực tế của một nhà lãnh đạo có lòng tự tôn dân tộc sâu sắc. Ông thẳng thắn nhìn nhận về cảm giác ban đầu khi tiếp nhận đề xuất quân sự từ phía đồng minh:

"Thú thực là tôi chẳng thích thú gì lắm với sự có mặt của các vũ khí đó ở Cuba, vì chúng tôi muốn tránh hình ảnh Cuba trở thành một căn cứ của Liên Xô, đặc biệt trong khuôn khổ Mỹ Latinh.2 "

Đây là một nhận định hoàn toàn có cơ sở khoa học lịch sử, bởi trong bối cảnh địa chính trị Tây bán cầu, việc xuất hiện vũ khí hạt nhân của một siêu cường ngoài khối sẽ tạo cớ cho đối phương đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền và cô lập Cuba.

Để giải quyết bài toán hóc búa này, Fidel Castro đã thể hiện một phong cách lãnh đạo dân chủ và tập thể khi nói với các phái viên rằng:

Chúng ta hãy tạm dừng ở đây, vì tôi cần bàn bạc với Ban Lãnh đạo toàn quốc Cách mạng về vấn đề tế nhị và trọng đại này1”.

Cuộc họp diễn ra vào buổi trưa hôm đó, ngoài Raúl Castro còn có Blas Roca, Che, Dorticós và Carlos Rafael. Tại đây, Fidel Castro đã trình bày với mọi người về tình hình cuộc hội đàm và quan điểm của phía Liên Xô là ngoài sự mong muốn ngăn chặn một cuộc tấn công Cuba mà Khrútxốp cảm thấy rất có trách nhiệm, các bạn Liên Xô cũng muốn cải thiện thế so sánh lực lượng chiến lược vì việc đặt tên lửa Liên Xô tại Cuba cũng tương đương với lợi thế của Mỹ khi họ đặt được tên lửa ở Thổ Nhĩ Kỳ và Italia. Fidel Castro đã đặt ra một lập luận mang tính phản biện sâu sắc trước tập thể lãnh đạo:

"Sẽ không nhất quán về phía chúng ta khi một mặt chúng ta mong chờ sự ủng hộ tối đa của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa trong trường hợp Mỹ xâm lược đất nước Cuba, nhưng mặt khác, chúng ta lại từ chối đương đầu với những rủi ro về chính trị và uy tín khi họ cần đến chúng ta2."

Quan điểm có tính đạo lý và cách mạng đó đã được Ban Lãnh đạo Cuba nhất trí tán thành. Khi quay lại nơi các đại diện của Liên Xô đang ngồi chờ, Fidel Castro đã khẳng định rõ lập trường chính thức mang tính khẳng định chủ quyền:

"Nếu đặt vấn đề để bảo vệ Cuba trước một cuộc tấn công trực tiếp, đồng thời tăng trưng cho Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa thì chúng tôi đồng ý cho đặt tên lửa tầm trung, vì điều đó là cần thiết3."

Thời gian còn lại dành để thảo luận những biện pháp bổ sung thích hợp, dẫn đến quyết định gửi bốn mươi hai tên lửa tầm trung đến Cuba. Bên cạnh đó, các lực lượng hải, lục, không quân ở Cuba sẽ được tăng cường bằng các tàu phóng tên lửa, một trung đoàn máy bay MIG-21, bốn lữ đoàn bộ binh cơ giới được trang bị tốt với các xe bọc thép và xe tăng, và một trung đoàn trang bị vũ khí hạt nhân chiến thuật, để trong thời điểm bùng nổ cuộc khủng hoảng đã có sẵn những đầu đạn hạt nhân và người chỉ huy có quyền sử dụng các vũ khí đó mà không cần phải chờ lệnh cấp trên. Các đơn vị tên lửa đất đối không của lực lượng phòng không có tầm bắn xa 30 km cũng sẽ được triển khai để bảo vệ các vũ khí hạt nhân chiến lược, tạo nên một hệ thống phòng thủ toàn diện mà cuộc hội đàm này đã diễn ra khoảng năm tháng trước khi có cuộc khủng hoảng.

Sự chủ động về mặt pháp lý và những bất đồng chiến thuật

Bản lĩnh lập quy và việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quốc tế

Một trong những đóng góp lớn nhất của Fidel Castro chính là tư duy chặt chẽ và chuyên nghiệp của ông trong việc xây dựng cơ sở pháp lý cho sự hợp tác quân sự này, bởi không nhắc đến những sự kiện chuẩn bị thì không thể hình dung được điều gì đã xảy ra vào tháng 10 năm 1962. Trong số nhiều thỏa thuận, cuộc hội đàm đã quyết định phải thảo ngay lập tức những văn bản liên quan và các đồng chí Liên Xô cam kết sẽ gửi cho Cuba các văn bản đó rồi ít lâu sau họ đã làm như vậy. Khi phân tích rất kỹ các tài liệu đó, Fidel Castro nhận thấy trong dự thảo hiệp định hoặc hiệp ước quân sự về việc lắp đặt tên lửa ở Cuba có những lỗ hổng, xét theo quan điểm chính trị và không phù hợp với cách diễn giải của một văn kiện công khai về một vấn đề thật tế nhị như vậy.

Với một tinh thần trách nhiệm cao, Fidel Castro đã chủ động thực hiện các bước điều chỉnh pháp lý cụ thể:

"Tôi đã soạn thảo lại hoàn toàn, trực tiếp viết bằng tay và giao cho Raúl mang sang Mátxcơva. Ở đó, Raúl đã thảo luận về bản thảo này với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Malinovski và Khrútxốp. Dự thảo của tôi đã được chấp nhận, không bỏ một dấu chấm, dấu phẩy nào1."

Điều này chứng minh rằng, trong quan hệ quốc tế, Cuba là một đối tác có tư duy độc lập, có khả năng áp đặt các tiêu chuẩn pháp lý cao nhất để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc.

Sau khi khuôn khổ pháp lý được định hình, các công việc chuẩn bị được xúc tiến một cách khẩn trương, lực lượng vũ trang và Nhà nước Liên Xô chỉ trong một thời gian rất ngắn đã thực hiện việc bố trí lực lượng của họ như đã thỏa thuận một cách hiệu quả. Về phần mình, phía Cuba đã rất cố gắng để cùng các bạn Liên Xô khảo sát những điểm sẽ bố trí các đơn vị và vũ khí, kể cả các tên lửa tầm trung và tất cả phương tiện bảo đảm an toàn. Phía Cuba đã làm mọi việc với sự tuân thủ những quy định nghiêm ngặt nhất có thể trong việc bố trí, ngụy trang và bảo mật, một công việc khó khăn ngoài sức tưởng tượng. Lực lượng vũ trang và các cơ quan an ninh Cuba, được sự hỗ trợ của Đảng và các tổ chức quần chúng, đã hành động với một hiệu quả rất cao.

Sự phê phán đối với chiến lược ngoại giao ngụy trang của Khrútxốp

Mặc dù công tác triển khai mặt đất đạt hiệu quả cao, sự rạn nứt về mặt chiến thuật giữa Fidel Castro và nhà lãnh đạo Xô viết Nikita Khrútxốp bắt đầu xuất hiện khi những tin đồn, mà ở Cuba gọi là lời đồn thổi hay những quả bóng hơi, vẫn lan tỏa khắp mọi nơi. Những kẻ bất mãn với Cách mạng tìm mọi cách gửi thư sang Mỹ, báo tin cho người thân và các quan chức về những động thái mà chúng quan sát được, khiến báo chí làm rùm beng và Kennedy cảm thấy bị phe đối lập cùng báo chí chất vấn. Trong bối cảnh đó, một cuộc thương thảo gượng gạo và kỳ quặc được xúc tiến giữa hai Chính phủ Liên Xô và Mỹ về tính chất tấn công hay phòng thủ của những vũ khí đang được gửi tới Cuba. Khrútxốp bảo đảm với Kennedy rằng đó là những vũ khí phòng vệ, còn Kennedy thì suy diễn rằng như vậy là không có tên lửa tầm trung. Fidel Castro nghĩ Kennedy đã tin vào những thông báo rành mạch của Khrútxốp, người liên tục khẳng định đó là những vũ khí phòng thủ, xuất phát không phải từ quan điểm kỹ thuật mà từ những mục đích phòng thủ đặt ra cho việc bố trí những vũ khí đó ở Cuba.

Dưới góc nhìn bình luận mang tính phản biện sâu sắc của khoa học lịch sử, Fidel Castro khẳng định chiến lược ngoại giao này của Khrútxốp là một sai lầm nghiêm trọng vì thực ra Liên Xô chẳng cần phải đưa ra những lời giải thích đó. Điều mà Cuba và Liên Xô làm là hoàn toàn hợp pháp và tuân thủ nghiêm chỉnh luật pháp quốc tế, lẽ ra ngay từ đầu phải tuyên bố rằng Cuba có quyền trang bị những vũ khí cần thiết cho nhu cầu phòng thủ đất nước. Phía Cuba không thấy thích thú chút nào với diễn biến của cuộc tranh luận công khai đó.

Chính vì vậy, Fidel Castro đã cử Che với tư cách Bộ trưởng Bộ Công nghiệp và ủy viên của Ban Lãnh đạo toàn quốc của Tổ chức Cách mạng Hợp nhất sang Liên Xô gặp Khrútxốp để trình bày những quan điểm của ông, kể cả sự cần thiết phải cho công bố ngay Bản hiệp định quân sự mà Liên Xô và Cuba đã ký kết. Tuy nhiên, Fidel Castro đã không thuyết phục được nhà lãnh đạo Liên Xô, và câu trả lời của Khrútxốp chỉ đơn thuần là sẽ cho triển khai Hạm đội Baltic để làm dịu bớt phản ứng quá mạnh của Mỹ. Đối với những người lãnh đạo Cuba lúc bấy giờ, Liên Xô là một nhà nước hùng mạnh và từng trải, nên Cuba không có lý lẽ nào khác để thuyết phục họ cần phải thay đổi chiến lược trong cách xử lý sự việc, và không còn cách nào hơn là tin vào họ.

Khủng hoảng bùng nổ: Bản lĩnh điều hành chiến trường và đối ngoại

Đánh giá sai lầm chiến thuật phòng không của Liên Xô và quyết định khai hỏa

Cuộc khủng hoảng chính thức bước vào giai đoạn đối đầu trực diện khi Mỹ phát hiện được các bệ phóng tên lửa vào ngày 14 và 15 tháng 10 năm 1962 nhờ một máy bay U-2 bay rất cao chụp ảnh được. Trên thực tế, một nhân viên của các cơ quan thông tin Liên Xô là đại tá Oleg Penkovsky chính là người đã báo cho Mỹ biết tọa độ chính xác của dàn tên lửa mà sau đó máy bay U-2 phát hiện ra, và Kennedy được báo cáo thông tin này vào ngày 16 tháng 10 để rồi sáu ngày sau cuộc khủng hoảng nổ ra.

Trong giờ phút định mệnh đó, tư duy quân sự của Fidel Castro đã chỉ ra điểm kỳ lạ trong thái độ của Khrútxốp khi các dàn tên lửa đất đối không được đặt dọc đất nước này nhưng phía Liên Xô lại không hề ngăn cản đối phương thăm dò tọa độ của các phương tiện phòng thủ Liên Xô, Cuba và vẫn để cho các máy bay do thám tác nghiệp. Fidel Castro nhận định đây không còn là vấn đề liên quan tới chiến thuật hoặc chiến lược nữa, mà là một quyết định liên quan tới vấn đề có sẵn sàng duy trì hay không một thái độ thực sự kiên quyết trước tình huống xảy ra. Việc để cho các máy bay do thám hoạt động trên bầu trời Cuba tức là cho không đối phương một lợi thế, cho chúng có một tuần trọn vẹn để vạch kế hoạch đáp trả trên cả lĩnh vực chính trị lẫn quân sự. Khi xảy ra cuộc khủng hoảng, Khrútxốp không có một ý tưởng rõ ràng về những gì cần phải làm, và tuyên bố đầu tiên của ông ta chỉ là cực lực lên án lập trường của Kennedy.

Về phía Mỹ, Kennedy đã hành động từ một vài ngày trước khi cuộc khủng hoảng nổ ra, khi tham khảo Bộ Tham mưu Liên quân Mỹ vào ngày 19 tháng 10 và nhận được lời khuyên mở một cuộc tấn công bằng không quân ồ ạt vào các dàn tên lửa. Đến ngày 20 tháng 10, theo khuyến cáo của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, Kennedy quyết định phong tỏa đường biển Cuba bằng 183 tàu chiến, trong đó có tám hàng không mẫu hạm và bốn vạn lính thủy đánh bộ trên các boong tàu, đồng thời tập trung ở Florida 579 máy bay chiến đấu và năm sư đoàn bộ binh sẵn sàng tham chiến, bao gồm các sư đoàn tinh nhuệ cơ động bằng đường không số 82 và 101. Vào thời điểm này, dư luận Mỹ và thế giới vẫn chưa biết chuyện gì đang xảy ra cho đến khi Kennedy phát biểu công khai trên truyền hình vào ngày 22 tháng 10 lúc 7 giờ tối với giọng điệu đầy kịch tính, tuyên bố rằng Liên Xô hoặc phải rút tên lửa hoặc phải đương đầu với cuộc chiến tranh đó, đồng thời công bố hành động phong tỏa đường biển nhằm ngăn chặn việc đưa thêm tên lửa mới vào Cuba. Lúc này, phía Liên Xô đã bắt giữ đại tá Oleg Penkovsky và biết người Mỹ đã có được tất cả các thông tin.

Fidel Castro đã tự suy đoán được điều này khi các đài ở Mỹ trong ngày 22 thông báo một cách rất giật gân về việc Kennedy sẽ phát biểu, kết hợp theo dõi một loạt các dấu hiệu khác, vì không thể có việc gì khác ngoài phản ứng trước sự có mặt của các tên lửa hạt nhân. Ngay lập tức, Fidel Castro yêu cầu Bộ chỉ huy quân sự Liên Xô ở Cuba phải khẩn trương tới mức tối đa việc lắp đặt các dàn phóng tên lửa chiến lược để sẵn sàng chiến đấu, khiến công việc diễn ra khẩn trương suốt ngày đêm. Tiến trình thực địa diễn ra hết tốc độ khi ngày 16 tháng 10 chưa có dàn phóng nào hoàn thiện, thì ngày 18 lắp xong 8 dàn, ngày 20 lên 13 dàn, và đến ngày 21 đã có 20 bệ phóng hoàn thành.

Trước khi Kennedy phát biểu, Cuba đã quyết định ban hành lệnh báo động chiến đấu và động viên đến người cuối cùng, đưa gần 30 vạn chiến sĩ vào tư thế sẵn sàng cầm vũ khí với tinh thần chiến đấu cao. Ngày 23 tháng 10, Fidel Castro lên tiếng trên Đài truyền hình tố cáo chính sách của Mỹ, cảnh báo nguy cơ xâm lược, động viên toàn thể nhân dân và bày tỏ lập trường sẵn sàng chiến đấu trước bất cứ nguy cơ nào. Cuộc phong tỏa đường biển của Mỹ bắt đầu có hiệu lực từ 2 giờ chiều ngày 24 tháng 10 khi có 23 tàu vận tải Liên Xô đang trên đường đến Cuba.

Điểm đỉnh của sự tự chủ quân sự được thể hiện khi máy bay Mỹ tiếp tục bay do thám công khai và trắng trợn, bắt đầu thực hiện cả các chuyến bay ở tầm thấp quét sát mặt đất, nơi không thể bị phát hiện và dễ dàng tung ra đòn không kích bất ngờ. Phía Cuba quyết định bắn hạ các máy bay Mỹ này và đã nêu vấn đề, thông báo trước với những người chỉ huy quân sự Liên Xô đóng tại đây rằng không được cho phép chúng bay quét đất, đồng thời khẳng định rõ lập trường thực tế:

"Chúng tôi thông báo trước với họ rằng chúng tôi sẽ bắn hạ. Và chúng tôi đã cho pháo phòng không khai hỏa. Ngày 27 tháng 10, một khẩu đội tên lửa phòng không SAM ở tỉnh Oriente, do các bạn Liên Xô điều khiển, đã bắn hạ một máy bay U-2. Lúc đó, tình hình căng thẳng đến tột độ. Tên phi công sĩ quan Mỹ Rudolph Anderson bị chết1."

Việc làm này là bằng chứng thực tế cho thấy đã có trận chiến diễn ra trong bối cảnh tình hình căng thẳng đến tột độ, dù vào bất cứ thời điểm nào cũng có thể xảy ra sự cố mới làm bùng nổ chiến tranh nhưng mọi người lúc đó đều bình tĩnh. Fidel Castro thừa nhận về tâm lý sẵn sàng chấp nhận hy sinh của ban lãnh đạo và nhân dân Cuba:

"Bản thân chúng tôi đã nghĩ rằng đụng độ là khó có thể tránh khỏi, và chúng tôi quyết tâm chấp nhận nguy cơ đó. Trong đầu chúng tôi không hề có ý nghĩ nhân nhượng trước những lời đe dọa của đối phương. Nhưng những người Liên Xô đã nhân nhượng."

Phê phán đối với thất bại ngoại giao của đại diện Liên Xô tại Liên hợp quốc

Song song với mặt trận quân sự, mặt trận ngoại giao tại Liên hợp quốc cũng là một đối tượng được Fidel Castro phân tích sâu sắc dưới góc nhìn phê phán. Ông đánh giá cuộc tranh luận ngày 25 tháng 10 năm 1962 giữa Đại sứ Mỹ Adlai Stevenson và Đại sứ Liên Xô Valerian Zorin là rất nhục nhã. Khi Stevenson trưng ra một cách ngoạn mục trước Hội đồng Bảo an các tấm ảnh cỡ lớn về những căn cứ tên lửa chiến lược, Đại sứ Liên Xô đã phủ nhận sự hiển nhiên đó, phủ nhận tính xác thực của các chứng cứ và từ chối tranh luận vì hoàn toàn ngẫu hứng, không được chuẩn bị để tranh luận.

Fidel Castro chỉ ra rằng đại diện Liên Xô đã sai lầm khi không công kích, không tố cáo, không sử dụng những lý do mạnh mẽ đủ để khẳng định quyền lợi chính đáng của các quốc gia nhỏ:

"Không công kích, không tố cáo, không sử dụng những lý do mạnh mẽ đủ để Cuba, một đất nước nhỏ bé và bị siêu cường xâm lược, đe dọa, có quyền yêu cầu sự ủng hộ, và phía Liên Xô trung thành với những nguyên tắc và nghĩa vụ quốc tế của mình, có quyền dành sự ủng hộ cho Cuba. Ông ta cứ luẩn quẩn trong một lập luận tầm thường, bắt nguồn từ thái độ dao động, và cách xử lý kém cỏi trước công chúng về vấn đề này của Khrútxốp trong những tháng trước khi cuộc khủng hoảng nổ ra1."

Đại sứ Liên Xô đã sai lầm khi từ chối cuộc tranh luận thực sự lẽ ra cần phải làm về chủ quyền, quyền được tự vệ và tự bảo vệ mình.

Thỏa thuận ngầm của hai siêu cường và phản ứng kiên định

Sự thiếu nhất quán ngoại giao sau lưng Cuba

Sự kiện gây tổn thương lớn nhất trong quan hệ hai nước chính là việc vào thời điểm căng thẳng đến tột độ, các bạn Liên Xô đã gửi cho Mỹ một bản đề xuất đạt được thỏa thuận mà Khrútxốp tuyệt đối không hề tham khảo ý kiến của phía Cuba. Họ đã đề xuất rút những tên lửa Liên Xô nếu Mỹ cũng rút tên lửa Jupiter của mình khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. Kennedy chấp nhận lời cam kết đó vào ngày 28 tháng 10, và các bạn Liên Xô quyết định rút các tên lửa SS-4, một việc làm mà phía Cuba cho là hoàn toàn không đúng và đã gây sự phẫn nộ cao.

Phía Cuba biết được thông tin này qua đường công khai chứ họ không hề thảo luận với ban lãnh đạo Cuba. Fidel Castro làm rõ rằng Cuba không chống lại một giải pháp nào vì điều quan trọng là làm sao tránh được cuộc đụng độ hạt nhân, nhưng ông bày tỏ sự không đồng tình về mặt quy trình đối ngoại:

"Nhưng đáng lẽ Khrútxốp cần phải nói với Mỹ rằng “Cũng cần phải thảo luận với người Cuba”. Đó là việc làm thiếu bình tĩnh và thiếu kiên quyết. Về nguyên tắc, họ phải tham khảo ý kiến chúng tôi. Nếu làm được như thế thì chắc chắn những câu chữ trong hiệp định sẽ khá hơn1."

Việc làm này thật khó chịu đối với Cuba, dẫn đến việc họ đã phản đối và ngay cả sau khi thỏa thuận đạt được, Cuba vẫn tiếp tục bắn những máy bay quét đất cho đến khi chúng phải ngừng các chuyến bay đó, khiến quan hệ giữa Cuba và Liên Xô bị tổn thương trong nhiều năm.

Để làm rõ tầm vóc chính trị, đạo đức và quân sự của những bước đi này, nội dung các lá thư trao đổi giữa Fidel Castro và Khrútxốp đã thể hiện rõ lập trường các bên. Trong thư gửi Khrútxốp ngày 26 tháng 10, Fidel Castro phân tích tình hình và báo cáo rằng cuộc xâm lược nhiều khả năng sẽ xảy ra trong vòng từ 24 đến 72 giờ nữa dưới hai khả năng là một trận không kích phá hủy mục tiêu hoặc một cuộc xâm lược chiếm đóng ghê tởm khó ngăn chặn. Ông khẳng định nhân dân Cuba có tinh thần rất cao, sẽ kiên quyết kháng cự dũng cảm, đồng thời đưa ra ý kiến cá nhân mang tính hiến lược:

"Nếu khả năng thứ hai xảy ra, và bọn đế quốc xâm lược với mục đích chiếm đóng Cuba, thì nguy cơ mà chính sách xâm lược đó đặt ra đối với nhân loại sẽ rất lớn và sau sự việc này Liên Xô không bao giờ được cho phép để xảy ra những tình huống tạo cớ cho bọn đế quốc có thể giáng đòn tấn công hạt nhân đầu tiên vào đất nước mình. Tôi nói với đồng chí điều này, vì tôi cho rằng bản chất hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc là cực kỳ nguy hiểm và nếu chúng tiến hành một hành động tàn bạo, vi phạm luật pháp và đạo lý chung của thế giới như tiến hành xâm lược Cuba, thì đó sẽ là thời điểm để thủ tiêu vĩnh viễn mối nguy cơ như thế, trong một hành động thực thi quyền bảo vệ chính đáng nhất2..."

Đến ngày 28 tháng 10, Khrútxốp viết thư trả lời, cho rằng bức điện gửi Kennedy ngày 27 tháng 10 đã cho phép xử lý vấn đề có lợi cho Cuba, bảo vệ Cuba khỏi cuộc xâm lược nhờ lời bảo đảm của Kennedy rằng Mỹ và đồng minh sẽ không xâm lược hòn đảo này. Khrútxốp cũng đổ lỗi cho sự ngoan cố của các nhà quân sự ở Lầu Năm Góc đang tìm cớ làm thất bại thỏa thuận bằng các chuyến bay khiêu khích, và trách việc Cuba bắn rơi máy bay Mỹ:

"Hôm qua, các đồng chí đã bắn rơi một trong số các máy bay đó, trong khi trước đó các đồng chí đã không bắn hạ được chúng khi chúng bay trên lãnh thổ Cuba. Bước đi này sẽ được bọn xâm lược lợi dụng để phục vụ cho mục đích của chúng3."

Ngay trong ngày 28 tháng 10, Fidel Castro viết thư trả lời làm rõ các biện pháp phòng không của Cuba, giải thích rằng trước đây các vụ vi phạm bầu trời mang tính đơn lẻ không có nguy cơ thực tế, nhưng hiện tại có nguy cơ của một trận không kích bất ngờ vào các căn cứ quân sự nên Cuba quyết định không khoanh tay đứng nhìn để tránh việc các trạm radar và mục tiêu bị phá hủy hoàn toàn.

Khấu hiệu năm điểm và việc khẳng định quyền độc lập tối cao

Sự thiếu chín chắn trong bước đi ngoại giao của Khrútxốp đã làm mất đi một cơ hội lịch sử vô giá để giải quyết triệt để các nguồn gốc gây căng thẳng. Phân tích của Fidel Castro chỉ ra rằng, vào thời điểm đó thế giới không sẵn sàng lao vào một cuộc chiến tranh thế giới bởi sự ngông cuồng của Chính phủ Mỹ. Không ai vì một cuộc bao vây kinh tế, một vài cuộc tấn công khủng bạo chống Cuba hay một căn cứ bất hợp pháp mà đi tới cuộc chiến tranh thế giới, nên hoàn toàn có thể đạt được các yêu cầu nếu có sự sáng suốt và tỉnh táo. Sự có mặt của các tên lửa chiến lược là lý do rất mạnh để Mỹ liên kết với đồng minh, nhưng nội dung bản hiệp định ký với Liên Xô hoàn toàn hợp pháp và là cơ sở pháp lý trước nguy cơ xâm lược thực tế đã được vạch sẵn. Các nhà sử học Mỹ trong chính hồ sơ của họ đã lưu trữ bản kế hoạch xâm lược Cuba sau trận Girón, với những cái cớ được vạch ra từ tháng 2 năm 1962 trong khi tên lửa đến tháng 7 mới bắt đầu được đưa đến. Người Liên Xô nhờ các phương pháp tình báo đã biết kế hoạch này và thông báo cho Cuba. Bản thỏa thuận hoàn toàn hợp pháp, tương tự như việc Mỹ đặt tên lửa Jupiter ở Thổ Nhĩ Kỳ và Italia. Vấn đề nằm ở sự chèo lái chính trị sai lầm của Khrútxốp khi bắt đầu thảo ra các lý luận về vũ khí tấn công và không tấn công, sử dụng sự dối trá để bóp méo thông tin làm đánh mất đạo đức và khích lệ Kennedy, tạo điều kiện cho máy bay U-2 xâm phạm vùng trời Cuba.

Để khẳng định chủ quyền độc lập của mình trước việc Liên Xô cam kết cho phép thanh tra việc rút tên lửa dưới sự giám sát của Liên hợp quốc mà không tham khảo ý kiến, Cuba đã phản ứng kiên quyết bằng cách tuyên bố không cho phép bất kỳ ai được thanh sát trên lãnh thổ đất nước. Fidel Castro thể hiện thái độ dứt khoát đối với vấn đề thanh sát:

"Trước tình hình đó, chúng tôi tuyên bố: “Không, ở đây không ai được thanh sát, không được phép làm vậy, còn nếu họ muốn ra đi, thì đó không phải là việc của chúng tôi1”."

Sự kiên định vô điều kiện này đã đẩy hai siêu cường vào thế kẹt, buộc họ phải lựa chọn việc thanh sát ngoài biển khơi thay vì trên lãnh thổ Cuba. Đồng thời, Cuba đưa ra năm yêu cầu nhằm giải quyết tận gốc căng thẳng, bao gồm việc ngừng các cuộc tấn công bí mật và các hành động xâm lược, khủng bạo chống Cuba; chấm dứt bao vây kinh tế; và trả lại vùng lãnh thổ chiếm đóng trái ý chí của nhân dân Cuba ở căn cứ hải quân Guantánamo. Trong cuộc khủng hoảng tháng 10 năm 1962, Cuba đã không dùng các biện pháp ngăn họ mang tên lửa đi vì việc nhảy vào cuộc xung đột với cả hai siêu cường là quá nặng đối với Cuba, nhưng việc ngăn cản thanh sát trên đất liền là điều Cuba đã thực hiện thành công để bảo vệ lòng tự tôn dân tộc.

Những bài học lịch sử từ cuộc khủng hoảng

Bài học về sự tự lực tự cường và chủ quyền quốc gia tuyệt đối

Bài học cốt lõi nhất xuất phát từ cuộc khủng hoảng tháng 10 năm 1962 chính là tính chất dễ bị tổn thương của sự phụ thuộc chiến lược vào các siêu cường bên ngoài khi không có sự đồng thuận bình đẳng. Thực tế lịch sử dựa trên các tài liệu gốc chứng minh rằng, khi cấu trúc chính trị thay đổi, các siêu cường sẵn sàng hành động đơn phương mà không cần tham khảo ý kiến của quốc gia đối tác.

Sự hành xử đơn phương này không chỉ diễn ra vào năm 1962 mà còn lặp lại vào tháng 9 năm 1991, khi Tổng thống Liên Xô Goócbachốp trong cuộc thương lượng trực tiếp với Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ James Baker đã quyết định rút khỏi Cuba đơn vị quân đội cuối cùng là Lữ đoàn huấn luyện bộ binh cơ giới mà hoàn toàn không tham khảo ý kiến của Cuba. Fidel Castro bình luận về sự suy thoái này một cách thẳng thắn:

"Lúc đó, họ đã suy thoái hoàn toàn. Họ chẳng bao giờ tham khảo ý kiến. Tất cả những gì họ mang khỏi đây, thì họ đã mang đi mà không tham khảo gì cả... Điều này thì họ đã thương lượng trực tiếp với Mỹ, không tham khảo ý kiến chúng tôi; họ đã thương lượng mọi chuyện mà không tham khảo1."

Mặc dù lữ đoàn đó đã rất suy yếu về nhân sự và phương tiện do Liên Xô bị chia rẽ nặng, việc thương lượng trực tiếp với Mỹ phản ánh một lối tư duy áp đặt cường quyền. Tương tự, vào tháng 10 năm 2001, phía Nga cũng đưa ra quyết định đơn phương đóng cửa và rút khỏi Trung tâm trinh sát điện tử đặt tại phía nam La Habana, thông báo khoảng 10 tháng sau chuyến thăm hữu nghị của Putin vào tháng 12 năm 2000 mà không hề có thỏa thuận trước với Cuba.

From thực tiễn đó, khoa học lịch sử rút ra bài học rằng chủ quyền quốc gia phải dựa trên nền tảng độc lập tự chủ. Chủ nghĩa xã hội xuất hiện ở Cuba không phải bằng cách nhân bản vô tính hoặc bằng thụ tinh nhân tạo từ bên ngoài. Fidel Castro khẳng định tính bản địa của phong trào cách mạng:

"Chủ nghĩa xã hội xuất hiện ở Cuba không phải bằng cách nhân bản vô tính hoặc bằng thụ tinh nhân tạo. Chủ nghĩa xã hội ở đây rất khác, và cần phải hiểu điều này khi so sánh Cuba với các quá trình hoặc các ý đồ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu, những nơi giờ đây đang mưu toan xây dựng chủ nghĩa tư bản1."

Vào thời điểm năm 1959, Cách mạng Cuba không hề nhận được từ phía Liên Xô một xu nào hay một khẩu súng nào, và Fidel Castro cũng không hề quen biết một người Liên Xô nào hay các nhà lãnh đạo của họ. Mối quan hệ ban đầu chỉ bắt nguồn từ việc Raúl Castro tình cờ quen biết Nikolai Leonov trên một chuyến tàu vào năm 1953. Bản chất khác biệt này giải thích vì sao Cách mạng Cuba có thể đứng vững trước những thử thách khốc liệt của lịch sử.

Bài học về tính chính nghĩa, đạo đức trong chính trị quốc tế

Bài học thứ hai liên quan đến mối quan hệ biện chứng giữa tính chính nghĩa đạo đức và nghệ thuật ngoại giao. Fidel Castro phê phán việc sử dụng sự dối trá để bóp méo thông tin vì điều đó không những không ngăn chặn được chiến tranh mà còn khích lệ đối phương hành động kiên quyết hơn. Trong một trận chiến chính trị, không thể đánh mất đạo đức bằng những hành động ngụy trang. Việc triển khai tên lửa đất đối không đòi hỏi một tư duy nhất quán là không thể cho phép máy bay đối phương tự do bay do thám trên lãnh thổ mà mình cần bảo vệ, tương tự như cách Mỹ bảo vệ không phận của họ và đồng minh. Sự thiếu nhất quán giữa mục đích chính đáng và biện pháp ngoại giao mập mờ của Khrútxốp là một bài học đắt giá về mặt khoa học quân sự và quan hệ quốc tế.

Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát và những hệ lụy

Nhãn quan khách quan đối với Tổng thống John F. Kennedy

Một đặc điểm nổi bật trong tư duy của Fidel Castro là sự đánh giá khách quan đối với đối thủ chính trị của mình. Ông nhìn nhận rằng Kennedy đã giành được uy quyền qua cuộc khủng hoảng và chứng tỏ có khả năng để đưa ra một đối sách có hiệu quả. Fidel Castro tin rằng nếu Cuba được tham gia vào các cuộc thương lượng với tinh thần xây dựng thì có thể đã có một cuộc đối thoại, một cuộc trao đổi về cảm nghĩ của nhau và qua đó tránh được rất nhiều vấn đề mà hai nước phải đương đầu sau này.

Khi phán xét về chính sách của Kennedy, Fidel Castro luôn xem xét bối cảnh thời đại với những học thuyết chiếm ưu thế lúc bấy giờ khi đối mặt với một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nằm cách Mỹ chỉ 90 dặm. Ở giai đoạn sau của cuộc khủng hoảng, Kennedy đã chứng tỏ sự khôn ngoan khi ra lệnh ngừng các chuyến bay sát mặt đất và ra lệnh đình hoãn Chiến dịch con chồn. Fidel Castro đưa ra những nhận định sâu sắc về nguyên nhân dẫn đến cái chết của vị tổng thống này:

"Những việc này đã gây nên sự căm phẫn gay gắt đối với Kennedy trong tất cả các lực lượng thù địch với Cách mạng Cuba, vì ông ta đã không ra lệnh cho hạm đội can thiệp vào vụ tấn công ở bãi biển Girón để hỗ trợ cho đội quân đánh thuê, vì ông ta đã không lợi dụng tình huống căng thẳng trong cuộc khủng hoảng tháng 10 để xâm lược Cuba như nhiều tướng tá và kẻ thù của chúng tôi đã khuyên ông. Có thể chính bọn chúng đã đứng sau âm mưu ám sát ông ấy1."

Dưới góc nhìn phản biện lịch sử, chính những thế lực này có thể đã đứng sau âm mưu ám sát Kennedy vào ngày 22 tháng 11 năm 1963.

Phản biện về vụ ám sát Kennedy và vai trò của Lee Harvey Oswald

Khi phân tích tài liệu thông báo chính thức về vụ ám sát Tổng thống Kennedy, Fidel Castro đã sử dụng những kiến thức kỹ thuật học được trong môn bắn tỉa để đưa ra những lập luận phản biện sắc bén. Tài liệu chính thức khẳng định Lee Harvey Oswald là hung thủ duy nhất thực hiện các phát bắn chính xác từ một khẩu súng trường có máy ngắm tầm xa trong một khoảng thời gian ngắn vào một mục tiêu đang di động. Fidel Castro khẳng định điều này là không thể có xét theo kinh nghiệm thực tế của bản thân:

"Khi anh bắn với một máy ngắm từ xa, nòng súng di chuyển vài milimét, và mục tiêu biến mất... Nếu anh đứng trong cửa sổ và bắn, ngay lập tức anh phải nạp đạn, tìm mục tiêu lần nữa và bóp cò, và tìm mục tiêu đang di động bằng máy ngắm tầm xa trong vài giây là rất khó. Bắn ba phát thật chính xác đối với ai không có nhiều kinh nghiệm là rất khó... Điều mà tôi có thể nói là chỉ xuất phát từ kinh nghiệm của tôi trong việc dùng súng có máy ngắm tầm xa, và điều mà tài liệu chính thức nói là điều không thể có, đơn giản vậy thôi2."

Từ những phân tích thực nghiệm đó, Fidel Castro hoàn toàn không tin vào tài liệu chính thức và đặt giả thuyết về việc có sự tham gia của vài xạ thủ để thực hiện những phát súng có độ chính xác cao trong một thời gian ngắn như vậy. Bên cạnh đó, việc Oswald đang bị giam giữ trong tù đột nhiên bị Jack Ruby giết chết ngay trước mặt cảnh sát và truyền hình dưới danh nghĩa một người có lòng từ bi cũng là một hiện tượng kỳ lạ, đủ để đặt ra mọi sự hoài nghi về một âm mưu được sắp đặt trước nhằm xóa dấu vết.

Sự liên đới của sự kiện này đối với Cuba nằm ở chỗ Oswald trước đó đã từng xin vào thăm Cuba nhưng do các nhân viên ngoại giao sẵn có nghi ngờ về hắn nên yêu cầu đã không được chấp nhận. Fidel Castro nhìn nhận về sự việc này một cách thận trọng:

"Thật là may mà người ta không cho phép loại người đó thăm Cuba. Nếu có thì chắc sự việc đó sẽ bị khai thác ầm ĩ và biến thành cớ cho một cuộc tuyên truyền khiêu khích lớn, vì chúng có thể dùng cớ đó để đổ tội cho Cuba... Anh thử tưởng tượng xem, loại người này đến đây rồi sau đó lại quay về bên đó, và sau vài ngày, hắn giết Kennedy, chính xác là một tuần sau chuyến thăm dự định của hắn. Hắn đã có một kế hoạch, không chỉ nhằm vào Kennedy mà còn nhằm vào cả Cuba1."

Oswald có những dấu hiệu phức tạp của một điệp viên hai mang khi từng đi Liên Xô, cưới vợ người bản xứ rồi quay về Mỹ ly dị trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh đang diễn ra căng thẳng. Kế hoạch của hắn hoặc các thế lực đứng sau không chỉ nhằm vào cá nhân Kennedy mà còn nhằm mục đích tạo cớ chống lại Cuba, biến sự kiện ám sát thành một công cụ chính trị nguy hiểm.

Tầm vóc lịch sử của Tổng tư lệnh Fidel Castro

Dưới ánh sáng của khoa học lịch sử, việc rà soát lại toàn bộ tiến trình diễn biến của Cuộc khủng hoảng tháng 10 năm 1962 dựa trên tư liệu gốc cho phép đưa ra một kết luận khách quan về tầm vóc và vai trò của Fidel Castro. Ông không phải là một nhân vật phụ thuộc chịu sự sắp đặt của các cường quốc, mà là một nhà lãnh đạo mang tư duy chiến lược độc lập, sở hữu năng lực phân tích quân sự, pháp lý xuất sắc và một bản lĩnh chính trị kiên cường.

Trong những giây phút nhân loại đứng trước nguy cơ hủy diệt, những quyết sách của Fidel Castro luôn hướng tới việc bảo vệ nguyên tắc tối cao là chủ quyền quốc gia dân tộc, quyền tự quyết của nhân dân và tính chính nghĩa đạo đức của một cuộc cách mạng chân chính. Dù phải đối mặt với áp lực bao vây từ kẻ thù lớn mạnh hay sự thỏa hiệp đơn phương từ đồng minh siêu cường, người đứng đầu Nhà nước Cuba vẫn giữ vững tay lái, đưa đất nước vượt qua giông bão lịch sử một cách hiên ngang. Những bài học lịch sử về tinh thần tự lực tự cường, sự cảnh giác chiến lược và thượng tôn pháp luật quốc tế rút ra từ tư duy của Fidel Castro vẫn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực hiện sâu sắc, trở thành ngọn đuốc soi đường cho các quốc gia đang trên con đường đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền trong hệ thống quan hệ quốc tế ngày càng phức tạp./.


1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr362

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr362

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr362

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr363

3 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr363

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr364

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr368

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr368

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr369

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr370

3 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr372

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr379

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr379

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr383-384

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr384

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr385

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr384

Vương Xuân Nguyên