Fidel Castro tranh thủ đọc sách ở bất kỳ đâu
Sự khủng hoảng của thể chế tư sản và sự bất lực của các đảng phái chính thống
Cuộc đảo chính của Fulgencio Batista và phản ứng của hệ thống chính trị
Nhận thức rõ ràng về vị thế chính trị yếu kém của bản thân, Batista đã sử dụng lực lượng vũ trang để đảo chính. Các cuộc thăm dò dư luận xã hội trước thời điểm đó đã chỉ ra một thực tế rằng Batista hoàn toàn không có một chút khả năng thắng cử nào trong cuộc bầu cử dự kiến diễn ra vào ngày một tháng sáu. Thắng lợi áp đảo trong cuộc đua giành quyền lực này được dự báo sẽ thuộc về Đảng Chính thống, tổ chức chính trị do Chibás sáng lập. Đối diện với viễn cảnh thất bại toàn diện, ngày 10 tháng 3 năm 1952, tức là đúng tám mươi ngày trước cuộc bầu cử chính thức, Batista đã thực hiện cuộc đảo chính quân sự xảo quyệt. Hành động này đã hủy bỏ Hiến pháp năm 1952 chỉ hai tháng và hai mươi ngày trước ngày bỏ phiếu, thiết lập nên một chính phủ bất hợp pháp và chuyên chế dựa trên một đội quân cổ lỗ, dơ bẩn.
Để hiểu rõ căn nguyên sâu xa của bước ngoặt bạo lực này dưới góc nhìn thực chứng, cần phân tích lăng kính của chính Fidel Castro khi ông trực tiếp nhận diện các dấu hiệu khủng hoảng. Ông nhấn mạnh tính chất phản động của hành động binh biến này bằng những dòng mang tính tổng kết lịch sử sâu sắc:
"Chúng tôi bắt đầu tuyển lựa và huấn luyện người để tham gia, như một chuyện sơ đẳng, cùng với những người khác vào cuộc đấu tranh khôi phục Hiến pháp năm 1952, vốn đã bị Fulgencio Batista, một kẻ có ảnh hưởng lớn trong cái đội quân cổ lỗ và dơ bẩn của hắn, hủy bỏ chỉ hai tháng và hai mươi ngày trước cuộc bầu cử, và âm mưu làm đảo chính, vì tin chắc mình hoàn toàn không có khả năng thắng cử.1"
Sự kiện bạo lực này đã đặt năng lực của các lực lượng đối lập vào một cuộc sát hạch nghiêm khắc. Fidel Castro đã bộc lộ một tư duy chính trị sắc bén khi ông sớm phát hiện các dấu hiệu tiềm ẩn của cuộc đảo chính. Ông đã nghi ngờ việc này dựa trên những dấu hiệu cụ thể xuất hiện trong lòng xã hội. Ngay sau đó, ông đã chủ động thông báo sự việc nghiêm trọng này với Ban Lãnh đạo Đảng Chính thống. Tuy nhiên, cấu trúc vận hành quan liêu của một đảng tư sản đã ngăn cản họ đưa ra những quyết sách mang tính hành động kịp thời. Ban Lãnh đạo Đảng Chính thống đã yêu cầu những người tâm phúc của mình tiến hành điều tra. Những người này đã thực hiện nhiệm vụ được giao và báo cáo ngược lại với Ban Lãnh đạo Đảng, nơi mà Fidel Castro không phải là thành viên, rằng tình hình đất nước hoàn toàn không có nguy cơ đó, tất cả mọi thứ vẫn yên tĩnh. Sự chủ quan và sai lầm mang tính hệ thống này của các nhà lãnh đạo chính thức đã khiến toàn bộ hệ thống chính trị bị động trước guồng máy áp bức của Batista.
Sự xuất hiện của phong trào phản kháng tự phát trong quần chúng
Sau khi chế độ độc tài quân sự được thiết lập, trong lòng xã hội Cuba đã bùng nổ những làn sóng căm phẫn mãnh liệt, đặc biệt là ở những vùng đất giàu truyền thống yêu nước. Nhân dân thành phố Santiago de Cuba đã nhanh chóng bày tỏ sự khước từ và căm ghét sâu sắc đối với cuộc đảo chính phi pháp đó. Ngay trong những thời điểm đầu tiên sau ngày mười tháng ba, đã có những dấu hiệu phản kháng mang tính vũ trang trong lòng quân đội chính quy do sự tác động của các sĩ quan tiến bộ. Một trung đoàn lính đóng tại thành phố Santiago de Cuba đã không tuân lệnh hưởng ứng cuộc đảo chính quân sự của Batista do ảnh hưởng của một số sĩ quan tiến bộ. Nhận thấy hành động bất tuân mệnh lệnh này, nhân dân thành phố Santiago đã lập tức xuống đường ủng hộ mạnh mẽ các binh lính phản kháng. Tuy nhiên, sự phản kháng này đã bị dập tắt sau khi chính quyền Batista tiến hành cách chức các sĩ quan yêu nước, buộc trung đoàn này phải ngả theo cuộc đảo chính.
Sự thất bại của các phong trào phản kháng tự phát và sự thỏa hiệp của các thế lực chính trị cũ đã tạo nên một khoảng trống quyền lực trong phong trào cách mạng. Toàn bộ đất nước bắt đầu bước vào giai đoạn tổ chức lại lực lượng và lập kế hoạch lật đổ chính phủ bất hợp pháp, chuyên chế kia. Sự xuất hiện của các phe nhóm diễn ra một cách ồ ạt, nhưng tất cả đều rơi vào tình trạng vô tổ chức. Fidel Castro nhận định rằng có một mớ hỗn độn các phe nhóm xuất hiện trong thời kỳ này, trong đó có nhiều người cùng một lúc tham gia vào mấy nhóm khác nhau. Những tổ chức này quen thói ba hoa chính trị, nhiều người tỏ ra chểnh mảng, buông xuôi khi đối diện với thực tế áp bức. Họ chưa hề có bất kỳ sự chuẩn bị và tổ chức nào để tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang một cách nghiêm túc như những gì mà các nhà cách mạng chân chính mong đợi.
Mô hình điển hình cho sự thiếu tổ chức này được minh chứng bằng trường hợp của vị giáo sư đại học Rafael García Bárcena. Để chứng minh tính chất hỗn độn và vô kỷ luật của các phe nhóm đối lập, Fidel Castro dẫn lại cuộc đối thoại trực tiếp phản ánh rõ nét lỗ hổng bảo mật sơ đẳng của họ:
"Ví dụ, ông Rafael García Bárcena, một giáo sư đại học, đến nói với tôi là muốn đánh chiếm trại lính Columbia ở La Habana, thành trì chủ yếu của chế độ. Ông ấy nói: 'Tôi có nội ứng sẵn sàng hỗ trợ'. Tôi nói với ông ấy: 'Ông muốn chiếm Columbia bởi vì có người sẽ mở đường cho ông ư? Xin ông chớ nói cho ai biết nữa nhé, chúng tôi có đủ người và chuyện này sẽ hoàn toàn được giữ kín'. Chà, ông ta đã làm ngược lại tất cả, ông ta nói với hơn hai chục tổ chức, và chỉ mấy ngày sau, tất cả La Habana, kể cả quân đội, đều biết vị giáo sư đó đang chuẩn bị chuyện gì1"
Kết quả tất yếu của sự ba hoa chính trị vô kỷ luật này là giáo sư Bárcena cùng các nhóm thường dân của mình bị bắt giữ ngay tại các góc phố xung quanh trại Columbia chỉ mấy tuần sau đó. Chính từ thực tế đau lòng đó, bộ chỉ huy của Fidel Castro đã đưa ra quyết định lịch sử mang tính độc lập chiến thuật:
"khi biết là kế hoạch đánh chiếm trại lính Columbia sắp tới đã thành câu chuyện phổ biến, chúng tôi quyết định ngay trước mắt, sẽ hành động với lực lượng của chính mình, vì chúng tôi lớn hơn về số lượng, về tính kỷ luật và trình độ huấn luyện so với tất cả những lực lượng khác cộng lại. Thật đau lòng phải nói ra điều này nhưng đúng là như thế.1 "
Trong bức tranh hỗn độn của các tổ chức phản kháng tư sản, Hội Liên hiệp sinh viên nổi lên như một trong những tổ chức nghiêm túc và có tinh thần chiến đấu nhất. Tuy nhiên, Fidel Castro cũng thẳng thắn chỉ ra rằng những trang sử huy hoàng nhất của tổ chức sinh viên này mãi về sau mới được viết nên một cách trọn vẹn, dưới sự lãnh đạo xuất sắc của José Antonio Echeverría, một sinh viên mới vào học ở trường đại học, cùng với Ban Chỉ đạo cách mạng do chính ông lập ra vào năm năm mươi sáu. Sự thiếu vắng một bộ tham mưu kiên quyết trong giai đoạn năm mươi hai đã đặt ra yêu cầu lịch sử về việc phải xây dựng một lực lượng mới hoàn toàn độc lập, có kỷ luật sắt và được soi sáng bởi một lý luận khoa học.
Chuyển hóa ý thức cách mạng Mácxít
Văn hóa chính trị và tâm lý quần chúng dưới sự thống trị tư sản
Để xây dựng một phong trào cách mạng có chiều sâu, việc khảo sát hiện trạng tâm lý và nhận thức của các tầng lớp nhân dân là một đòi hỏi bắt buộc đối với nhà khoa học lịch sử. Dưới sự thống trị lâu dài của hệ thống tư bản chủ nghĩa và sự đè nén tư tưởng từ phía đế quốc Mỹ, xã hội Cuba rơi vào một trạng thái khủng hoảng nhận thức nghiêm trọng. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tinh thần cách mạng của nhân dân Cuba bị sứt mẻ sâu sắc, họ bị đè nén dưới sức nặng áp đảo của guồng máy tư tưởng và hệ thống báo chí tuyên truyền của Mỹ. Hệ quả trực tiếp của quá trình này là tình trạng vô văn hóa chính trị lúc đó quá lớn trong lòng xã hội.
Sự thiếu hụt lý luận đã dẫn đến những nhận thức sai lầm mang tính bề nổi trong quần chúng nhân dân khi họ đối diện với các tai họa xã hội. Có rất nhiều người trong xã hội biểu thị thái độ chống lại tệ nạn ăn cắp, tham ô, nạn thất nghiệp, đàn áp và sự bất công. Tuy nhiên, do bị giới hạn về mặt nhận thức, họ cứ tưởng rằng tất cả những tai họa đó đều là lỗi của những chính khách xấu xa cá biệt trong bộ máy chính quyền. Quần chúng lao động chưa thể nhận ra được cái chế độ gốc rễ đã gây nên những tệ nạn đó. Ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản, một thứ thế lực vô hình đối với những người bình thường, đã tác động và thao túng đến từng cá nhân mà bản thân họ hoàn toàn không nhận ra được.
Sự mù quáng về mặt chính trị này được thể hiện rõ nét qua niềm tin ngây thơ của nhân dân vào một giải pháp mang tính cứu thế cá nhân. Trong các ghi chép của mình, Fidel Castro đã phân tích một cách sâu sắc và thực chứng về ảo tưởng thiên sứ này:
"Nhiều người tin rằng nếu trên trời cử xuống một thiên sứ, có kinh nghiệm nhất, đặt ông ta cai quản nước Cộng hòa, thì có thể đem lại một nền hành chính đúng dẫn, có thể làm thêm được nhiều trường học và sẽ không có ai ăn cắp kinh phí dành cho y tế và các nhu cầu cấp thiết khác nữa. Họ không hiểu được rằng tình trạng thất nghiệp, nghèo đói, thiếu ruộng đất, tất cả mọi tai họa này không vị thiên sứ nào có thể giải quyết được, bởi vì những trang trại rộng lớn kia, chế độ sản xuất kia không chấp nhận cắt bỏ bất cứ thứ gì. Tôi hoàn toàn tin rằng chế độ này phải bị tiêu diệt tận gốc.1"
Fidel Castro đã nhận diện bản chất hệ thống của sự áp bức này. Ông hoàn toàn tin tưởng rằng cái chế độ thối nát này phải bị tiêu diệt tận gốc rễ. Ở một đất nước bị bóc lột và giày xéo tàn tệ như Cuba, nếu không có sự ủng hộ rộng lớn của giai cấp công nhân, nông dân và dân nghèo, tất cả mọi nỗ lực hành động cách mạng đều trở nên vô nghĩa.
Biện chứng của sự thuyết phục và ý thức giai cấp
Đối diện với khối quần chúng chưa có ý thức chính trị sâu sắc, Fidel Castro đã vận dụng một phương pháp luận đúng đắn để tập hợp lực lượng. Những người thanh niên yêu nước tham gia phong trào ban đầu đều là đảng viên thuộc Đảng Chính thống, họ có tinh thần kiên quyết chống Batista, có phẩm chất trong sáng, nhưng chưa hề được giáo dục về mặt chính trị. Họ sở hữu một bản năng giai cấp tự phát, tuy nhiên họ hoàn toàn chưa có ý thức giai cấp tự giác. Ngoại trừ những đảng viên thuộc Đảng Xã hội nhân dân tức Đảng Cộng sản đã có ý thức chính trị tương đối, phần lớn lực lượng thanh niên còn lại đều đứng ở vạch xuất phát về mặt lý luận.
Tiến trình chuyển hóa từ bản năng giai cấp thành ý thức giai cấp được Fidel Castro thực hiện một cách nhanh chóng bằng việc sử dụng các luận cứ khoa học kết hợp với các ví dụ thực tiễn sinh động. Ông nhận thấy một sự thật kinh ngạc rằng chỉ cần dùng một luận cứ phù hợp và một số ví dụ sát sườn, người lãnh đạo đã có thể nhanh chóng thuyết phục ai đó hiểu được rằng cái xã hội kia là phi lý và bắt buộc phải thay đổi nó đi. Việc tập hợp và giáo dục này được thực hiện tương đối nhanh chóng. Lúc đầu, Fidel Castro chỉ có một nhúm cán bộ cốt cán để thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền và vận động này.
Hạt nhân lý luận của phong trào được hình thành thông qua việc tổ chức các cấu trúc học tập nghiêm túc. Fidel Castro đã tổ chức một câu lạc bộ nhỏ nghiên cứu về chủ nghĩa Mác ở Guanabo trong một căn nhà được người ta cho mượn, tài liệu gốc được ông sử dụng làm giáo trình là cuốn tiểu sử của Mác do Mehring viết. Đây là một cuốn sách chứa đựng một câu chuyện đẹp đẽ và có sức lay động lớn đối với những người trẻ tuổi. Các đồng chí chủ chốt như Abel Santamaría và Jesús Montané đều đã tham gia một cách tích cực vào khóa học lý luận này.
Để khẳng định tính thực chứng về hiệu quả giáo dục chính trị trong giai đoạn tiền khởi nghĩa, lời thuật của Fidel phản ánh sự tự tin vào sức mạnh của tư tưởng:
"Tôi đã phát hiện ra một việc: điều dễ nhất trên thế giới, trong những hoàn cảnh đó, là huấn luyện ai đó thành người theo chủ nghĩa Mác. Tôi có đôi chút năng khiếu thuyết giáo. [...] Tôi đã vượt qua giai đoạn là một người theo chủ nghĩa cộng sản không tưởng, trước khi được đọc các trước tác của Mác và của các tác giả xã hội chủ nghĩa khác.1"
Quá trình trải nghiệm thực tế tại quê hương kết hợp với các kinh nghiệm đã trải qua đã giúp ích cho ông rất nhiều trong việc nhìn thấu sự hỗn độn, phi lý của xã hội đương thời.
Vị trí chính trị của Đảng Cộng sản Cuba và sự lựa chọn chiến lược
Một câu hỏi lịch sử quan trọng đặt ra cho các nhà nghiên cứu là tại sao Fidel Castro không sáp nhập lực lượng của mình vào Đảng Cộng sản Cuba hiện có, một tổ chức đã có nền tảng lý luận vững chắc. Xem xét cội nguồn lịch sử, Đảng Cộng sản Cuba được thành lập bởi Mella, một lãnh tụ sinh viên đại học trẻ tuổi, xuất sắc, cùng với một cựu chiến binh của cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc. Đây là tổ chức duy nhất có ý thức chính trị tương đối rõ ràng trong lòng xã hội Cuba.
Tuy nhiên, bước sang năm 1952, vị thế của Đảng Cộng sản đã bị thay đổi sâu sắc do bối cảnh quốc tế và quốc nội. Vào thời điểm năm 1952, Đảng Cộng sản Cuba đã rơi vào tình trạng bị cô lập hoàn toàn về mặt chính trị. Đây là hệ quả trực tiếp của cao trào chủ nghĩa chống cộng Macarti kết hợp với ảnh hưởng từ chiến dịch chống cộng quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, khi chúng huy động mọi phương tiện truyền thông và bạo lực có trong tay để chống lại bất cứ cái gì có hơi hướng cộng sản. Trong bối cảnh đề tài chống đế quốc chưa hề được thảo luận công khai ở ngoài xã hội mà chỉ được bàn đến trong nội bộ của Đảng Cộng sản, việc công khai xuất hiện dưới danh nghĩa cộng sản sẽ tự giới hạn không gian hoạt động và khả năng tập hợp quần chúng rộng lớn.
Do đó, Fidel Castro đã đưa ra một quyết định mang tính chiến lược, đó là không gia nhập Đảng Cộng sản Cuba tại thời điểm đó. Đây là một việc được suy tính và cân nhắc kỹ lưỡng trong bộ tham mưu của ông. Thay vì chọn con đường công khai chính trị, Fidel Castro lựa chọn việc thâm nhập và khai thác nguồn lực từ quần chúng lành mạnh của Đảng Chính thống. Ông đã kiến giải rõ nét bản chất của quyết định độc lập này khi phân tích chiều sâu của đội ngũ kế cận:
"Cái mà tôi có chính là mối quan hệ với đảng kia, Đảng Chính thống, vốn đã tập hợp được nhiều thanh niên, tất cả đều chống Batista, giống như hình ảnh tương phản của Batista; về mặt này thì trong cả nước lúc đó không có tổ chức nào so sánh được. Tầng lớp thanh niên đã có tư cách và lòng yêu nước cao. Chưa thể khẳng định được [...] rằng họ đã có một trình độ giác ngộ chính trị, cách mạng, giác ngộ về giai cấp [...] Nhưng quần chúng của đảng này là tốt, là nhân dân lao động và lành mạnh, bao gồm các tầng lớp trung lưu, thậm chí không hoàn toàn chống đế quốc, bởi vì đề tài chống đế quốc lúc đó chưa được bàn đến.1"
Bằng cách này, phong trào của ông vừa giữ được bản chất lý luận mácxít độc lập, vừa tránh được sự bao vây cô lập tư tưởng của chủ nghĩa Macarti, tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng lực lượng bạo lực cách mạng.
Công tác xây dựng lực lượng và hậu cần khí tài biên chế
Mô hình nhân sự và cơ cấu kinh tế của phong trào cách mạng
Sự hình thành và duy trì một đội quân cách mạng nhỏ đòi hỏi một giải pháp đồng bộ về mặt kinh tế và quản trị nhân sự. Từ những bước tuyển lựa đầu tiên, Fidel Castro cùng các đồng chí của mình đã xác định việc xây dựng lực lượng chiến đấu ban đầu là nhằm kết hợp với tất cả các lực lượng chống Batista để khôi phục Hiến pháp năm 1952. Trong không đầy một năm, phong tào đã tuyển chọn và huấn luyện được một số lượng thanh niên khá lớn, đạt tới con số chính xác là một ngàn hai trăm người. Khi đạt được số lượng chiến sĩ này, bộ chỉ huy đã chủ động ngừng việc chiêu mộ và huấn luyện thêm để tập trung vào việc tinh lọc kỷ luật. Hầu hết lực lượng này đều nằm trong hàng ngũ của Đoàn Thanh niên thuộc Đảng Chính thống, họ duy trì được sự đoàn kết chặt chẽ và kỷ luật nghiêm ngặt.
Cơ cấu lứa tuổi và thành phần xã hội của đội quân nhỏ này phản ánh tính chất trẻ trung, trong sáng của phong trào. Tất cả mọi người lúc đó đều rất trẻ, ở độ tuổi hai mươi, hai mươi hai, hai mươi ba hoặc hai mươi tư. Trên ba mươi tuổi trong toàn bộ lực lượng có lẽ chỉ có duy nhất hai người, đó là bác sĩ Mario Muñoz, người đảm nhiệm vị trí bác sĩ của đội quân, và Gildo Fleitas, một người từng làm việc tại Văn phòng trường Trung học Belén nơi Fidel từng tốt nghiệp tú tài vào năm 1945. Các chiến sĩ thuộc về các chi bộ được tổ chức ở các thị trấn khác nhau trong nước, họ là những thanh niên có tư chất tuyệt vời. Quận Artemisa thuộc tỉnh Pinar del Rio thời kỳ đó là nơi đóng góp nhiều chiến sĩ xuất sắc nhất cho cuộc tấn công, với số lượng từ hai mươi đến ba mươi người. Những người khác đến từ các thị trấn thuộc lãnh thổ của hai tỉnh được phân chia sau Cách mạng là thành phố La Habana và tỉnh La Habana.
Về mặt kinh tế, phong tào hoạt động hoàn toàn dựa trên sự tự lực và hy sinh tài chính cá nhân của các thành viên, tuyệt đối không có nguồn tài trợ từ các thế lực tư sản bên ngoài. Fidel Castro tự nhận vị thế là nhà cách mạng chuyên nghiệp đầu tiên của phong trào, bởi vì trong hoàn cảnh đó, ông không có nghề nghiệp nào khác ngoài việc bào chữa miễn phí cho những người nghèo khổ trên cương vị luật sư. Toàn bộ thời gian của ông phải dành cho nhiệm vụ cách mạng, và các đồng chí trong phong trào đã tự nguyện đóng góp thu nhập để nuôi sống ông.
Để làm nổi bật tính thực chứng về sự cống hiến tài chính vô điều kiện này, văn bản lưu giữ lời kể chi tiết của Fidel về nguồn kinh tế nội bộ:
"Họ làm việc; còn tôi là nhà cách mạng chuyên nghiệp [...] Montané còn có một tài khoản nho nhỏ ở ngân hàng; không lớn, có lẽ chỉ khoảng 2 ngàn hoặc 3 ngàn peso thôi, và một công việc được trả lương kha khá, còn Abel thì có lương vào loại khá ở thời đó, có một căn hộ trong tòa nhà chung cư ở khu Vedado; cùng với em gái Haydée. [...] Thu nhập của tôi là dành cho xăng xe, tiền thuê nhà và những chi phí cơ bản trong cuộc sống. Tôi cũng phải nói thêm là chiếc xe mang biển số 50315 chưa phải là hoàn toàn sở hữu của tôi, vì nó được mua trả góp. Hằng tháng, phải tiếp tục trả tiền, nếu không, sẽ bị hãng cho vay thu hồi xe ở bất cứ đường phố nào. Nhiều lần Abel và Montané phải dùng lương của mình để chuộc xe ra.1"
Biện pháp huấn luyện du kích ngụy trang trong lòng đô thị
Công tác huấn luyện quân sự cho 1.200 chiến sĩ được triển khai bằng một chiến lược ngụy trang khoa học ngay giữa lòng thủ đô La Habana. Địa điểm được lựa chọn làm trung tâm huấn luyện thô sơ chính là Trường Đại học La Habana. Vào thời điểm đó, quyền tự trị của trường đại học tương đối lớn, tạo ra một không gian hành động thoải mái cho sinh viên yêu nước. Khu vực đồi Đại học được hưởng quyền bất khả xâm phạm tương đối trong suốt giai đoạn đầu, khiến quân đội và cảnh sát của Batista không thể tự tiện xâm nhập.
Tại đây, dưới sự điều hành của Pedro Miret, một sinh viên khoa công nghệ có uy tín, một trung tâm huấn luyện đã được lập ra ngay trong Phòng tưởng niệm các liệt sĩ. Các chiến sĩ cách mạng được tổ chức thành các tổ nhỏ có số lượng sáu, tám, mười hoặc mười hai người. Pedro Miret đảm nhiệm vai trò huấn luyện viên, hướng dẫn họ tập tháo, lắp súng và tập ngắm bắn không có đạn. Hoạt động này được ngụy trang giống với một hoạt động thể thao sinh viên hơn là một sự chuẩn bị binh biến. Bản thân Fidel Castro hoàn toàn giữ bí mật tư thế lãnh đạo của mình đối với Batista và các tổ chức khác bằng việc không bao giờ xuất hiện tại các địa điểm huấn luyện trong trường đại học.
Fidel thuật lại mô hình rèn luyện bí mật này bằng những câu khẳng định tính kỷ luật tuyệt đối:
"Ở trường Đại học La Habana, chúng tôi tập tháo, lắp súng và ngắm bắn không có đạn, cùng với Pedro Miret. Trong Phòng tưởng niệm các liệt sĩ, Pedro đã lập một trung tâm huấn luyện. [...] Tôi bắt đầu tổ chức những người của mình thành các tổ có 6, 8, 10 hoặc 12 người và huấn luyện họ; mỗi tổ đều có người chỉ huy. Tôi làm công tác chính trị và tổ chức. Người ta không thấy tôi có mặt ở những nơi huấn luyện trong trường đại học.Trên thực tế, tôi vẫn bí mật với Batista và các tổ chức khác1"
Để giải quyết bài toán huấn luyện bắn đạn thật, phong trào đã sử dụng một phương thức độc đáo, đó là khai thác các câu lạc bộ xạ kích dân sự hợp pháp ở La Habana. Một vài đồng chí có ngoại hình và phong cách phù hợp được lựa chọn để ngụy trang thành các nhà tư bản, thương gia hay vận động viên thể thao tùy theo dáng vẻ của từng người. Họ đăng ký tham gia vào các câu lạc bộ săn bắn và tham gia tập môn thể thao bắn đĩa bay một cách hoàn toàn hợp pháp. Bằng phương pháp này, bộ chỉ huy đã huấn luyện được một lực lượng lớn hoàn toàn hợp pháp, dù chỉ có một bộ phận được chọn lựa trước mới được tập bắn bằng đạn thật. Sự an toàn này xuất phát từ việc các cơ quan đàn áp của Batista hoàn toàn chủ quan, chúng không chú ý nhiều đến phong trào của Fidel Castro vì chúng biết ông không có tiền, không có vũ khí mang từ nước ngoài về. Trong tư duy của bọn mật thám, những kẻ có bạc triệu và vũ khí hiện đại thuộc chính phủ tham nhũng cũ mới là những kẻ có khả năng làm đảo chính.
Tư duy khí tài và chiến thuật tích lũy vũ khí cự ly gần
Kho vũ khí được tích lũy cho trận tấn công Moncada phản ánh một tư duy quân sự đặc biệt, chú trọng đến hiệu năng sát thương ở cự ly gần thay vì tầm bắn xa. Bản thân Fidel Castro là một người có kinh nghiệm sử dụng vũ khí từ năm mươi một, mười hai tuổi tại trang trại Birán. Ông đã từng trải qua các tình huống gần giống như chiến tranh trong cuộc viễn chinh Cù lao Confites năm 1947, nơi ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban dân chủ cho Đôminica và đã tập bắn cả súng cối cùng các loại vũ khí khác. Từ kinh nghiệm thất bại của cuộc viễn chinh Confites, một cuộc hành binh hổ lốn vô chính trị được tập hợp bởi những người nhặt ở ngoài đường phố và các phần tử lưu manh không có chuẩn bị về mặt tư tưởng, Fidel Castro hiểu rằng một kế hoạch quân sự không thể thành công nếu chỉ dựa vào số lượng vũ khí thô sơ đối đầu trực diện với một quân đội được Mỹ trang bị mạnh mẽ.
Do đó, đối với trận tấn công vào một trại lính đô thị, Fidel Castro xác định vũ khí lý tưởng nhất chính là súng săn cỡ 12 ly của Bỉ. Ông kiến giải sâu sắc về tư duy quân sự đặc thù này thông qua việc phân tích thông số kỹ thuật của khí tài:
"vũ khí hiệu quả nhất cho loại hành động này là những khẩu súng săn cỡ 12 ly của Bỉ, sử dụng kiểu băng đạn chín viên bi một, có thể bắn được năm viên trong một phút. Tôi mang theo một khẩu như vậy. Trong một trận đánh cự ly gần thì chín viên đạn đủ sức sát thương. [...] Vũ khí đáng sợ nhất, tôi xin nhắc lại với anh, là súng săn bán tự động 12 ly với bốn viên đạn ở trong băng đạn và một viên trong nòng, mỗi viên đạn có 9 viên bi (loại đạn viên). Trong có mấy giây, có thể bắn được 45 viên bi đủ sức sát thương. Anh có thể loại khỏi vòng chiến đấu bất cứ ai, trong một trận giáp lá cà, là cách đánh được dự kiến sẽ diễn ra vì lúc đó ta đã ở trong doanh trại rất gần bọn lính.1"
Bên cạnh súng săn, kho khí tài của phong trào còn eo hẹp. Họ có một khẩu M-1 duy nhất của Pedro Miret, một hoặc hai khẩu Thompson cỡ bốn mươi lăm ly có nguồn gốc từ trường đại học, một khẩu Springfield lên quy lát và hai khẩu Winchester cỡ 13,6 ly. Hai khẩu Winchester này do chính Fidel đem từ nhà ở Birán đến vì quá thiếu hụt vũ khí. Tiến trình vận chuyển hai khẩu súng này về thủ đô là một câu chuyện hậu cần đầy mạo hiểm, khi Raúl Castro phải học tháo lắp súng với người gác đêm Pedro Lago tại trang trại, sau đó mang súng gửi qua đường bưu điện chuyển nhanh từ Holguín về La Habana một khẩu, còn khẩu còn lại thì tự mình mang theo trên chuyến xe buýt tuyến Santiago về thủ đô. Raúl đã mưu trí để khẩu súng ở khoảng trống phía trước những hàng ghế, còn mình thì ngồi ở tít phía sau để nhỡ có bị kiểm tra xe còn kịp thời xử lý. Phong tào hoàn toàn không có súng trung liên Browning cỡ 45 ly hay các loại súng tự động càng ba chân của quân đội. Số vũ khí ít ỏi này, dù thô sơ, nhưng theo tính toán chiến thuật của Fidel Castro là hoàn toàn đủ để làm chủ một trại lính nếu giữ được yếu tố bất ngờ.
Chiến dịch thâm nhập kho vũ khí phe phản kháng tư sản
Trong quá trình tìm kiếm vũ khí, phong trào của Fidel Castro đã chủ động triển khai một chiến dịch tình báo táo bạo nhằm thâm nhập vào một tổ chức chống Batista thuộc đảng của chính phủ tham nhũng bị lật đổ ngày 10 tháng 12. Tổ chức tư sản này có rất nhiều vũ khí mang từ nước ngoài về nhưng lại hoàn toàn rơi vào tình trạng thiếu người chiến đấu. Bằng việc sử dụng danh tiếng cá nhân, tính năng nổ và đầu óc nhạy bén của Abel Santamaría, phong trào đã làm cho họ tin rằng phía cách mạng có ba nhóm, mỗi nhóm gồm 120 thanh niên được huấn luyện kỹ càng. Họ đã tổ chức các cuộc kiểm tra ngụy trang theo từng nhóm bốn mươi người tại các địa điểm khác nhau ở thủ đô để tạo ấn tượng.
Fidel Castro thuật lại diễn biến ly kỳ và kết cục của chiến dịch thâm nhập này bằng những dòng thực chứng đầy tiếc nuối:
"Họ thấy rất ấn tượng. Họ chẳng muốn gì hơn thế. Nhưng nhiều quá. Tham vọng của chúng tôi quá lớn. Họ đã nghi ngờ và cắt đứt liên lạc. Tất cả thanh niên và chỉ huy đều mới. Có lẽ họ đoán được mưu đồ. Thậm chí tên tôi đã cấm không được nhắc đến. Nhưng một trong các liên lạc viên của chúng tôi đã bất cẩn khi làm chuyện đó. [...] Vì vậy, họ đổ lỗi cho tôi đã bới móc chính phủ, thúc đẩy cuộc đảo chính.1"
Sự thất bại của liên minh tình báo này đã củng cố thêm quyết tâm của bộ chỉ huy về việc phải hành động độc lập bằng chính lực lượng của mình.
Thiết kế chiến thuật và sự bố trí trận đánh Moncada
Địa bàn chiến lược Santiago de Cuba và bản doanh Siboney
Việc vạch ra kế hoạch và lựa chọn thành phố Santiago de Cuba để bắt đầu cuộc đấu tranh vũ trang là một quyết định mang tầm nhìn chiến lược. Thành phố lịch sử này nằm ở miền Đông đất nước, cách xa thủ đô La Habana gần một ngàn cây số, là nơi có truyền thống khước từ chế độ độc tài một cách mạnh mẽ. Để chuẩn bị cho trận đánh, phong trào đã thuê một trang trại tại Siboney ở ngoại ô thành phố từ tháng 4 năm 1953, tức là đúng ba tháng trước trận tấn công. Người đứng tên làm mọi thủ tục thuê nhà là Renato Guitart, một thanh niên người Santiago dũng cảm, quyết đoán, người duy nhất tại địa phương được nắm giữ bí mật quan trọng này. Renato là người biết rất rõ thành phố và các vùng ngoại vi, chịu trách nhiệm dẫn đường và chuẩn bị hậu cần cho toàn bộ lực lượng từ miền Tây chuyển đến.
Trang trại Siboney được lựa chọn vì đây là vị trí có tính chất chiến lược nhất, kín đáo và phù hợp để tập kết quân nhu. Tiến trình thiết lập căn cứ ngụy trang tại đây được Fidel Castro miêu tả một cách chi tiết về mặt không gian địa hình:
"chúng tôi chọn trại Siboney, bởi vì đó là một vị trí chiến lược nhất. Chúng tôi thấy nơi đó kín đáo và phù hợp nhất so với một số vị trí có thể tập kết quân khác. Theo con đường chạy qua trước trại, có thể đi từ Santiago ra biển, đến chính điểm đổ bộ của quân Mỹ để tấn công quân Tây Ban Nha vào năm 1898: Siboney [...] Tại đó, một công trình giả như trại nuôi gà với đủ chuồng trại được dựng lên, để ngụy trang. Dưới một cái giếng gần nhà, chúng tôi cất giấu một phần vũ khí. Nhưng phần lớn vũ khí đã được mang đến cùng lúc với chúng tôi.1"
Khai thác yếu tố hội carnaval và nguyên lý ngụy trang quân phục
Thời điểm tiến hành trận đánh được bộ chỉ huy tính toán trùng hợp với lễ hội carnaval truyền thống của thành phố Santiago de Cuba vào ngày 25 và 26 tháng 7. Sự trùng hợp này tạo ra một thuận lợi lớn cho việc di chuyển lực lượng, khi dòng người từ khắp nơi đổ về tham gia lễ hội hóa trang sẽ làm loãng sự chú ý của các cơ quan mật vụ. Tất cả một trăm sáu mươi chiến sĩ đã rời La Habana, di chuyển bằng ô tô thuê vượt khoảng cách gần một ngàn cây số để đến Santiago theo từng nhóm nhỏ. Bản thân Fidel Castro xuất phát vào lúc 2 giờ 14 phút sáng ngày 25, có dừng lại ở Santa Clara để mua kính đeo mắt do ông bị cận thị nhẹ, sau đó đi qua Bayamo và Palma Soriano trước khi đến trại Siboney vào lúc xẩm tối. Tuyệt đại bộ phận các chiến sĩ khi đến nơi đều được bố trí nghỉ tại các nhà trọ trong thành phố do Abel Santamaría thuê từ trước, và chỉ được lệnh tập kết về trại Siboney vào khoảng 10 - 11 giờ đêm ngày 25. Đến thời điểm này, họ mới được thông báo chính thức về kế hoạch tấn công Trại lính Moncada.
Yếu tố bất ngờ của trận đánh được củng cố bằng việc ngụy trang toàn bộ lực lượng thành quân đội chính quy của Batista với quân hàm trung sĩ. Mô hình ngụy trang này phỏng theo cuộc đảo chính của các hạ sĩ quan do chính Batista lãnh đạo vào năm 1933. Để phân biệt các chiến sĩ cách mạng với binh lính địch trong điều kiện hỗn loạn, bộ chỉ huy đã đưa ra một dấu hiệu nhận diện đặc biệt:
"Anh có biết chúng tôi phân biệt bằng thứ gì không? Ngoài loại vũ khí mang theo, vốn không thể lẫn vào đâu được, còn là nhờ vào những đôi giày. Những đôi giày của chúng tôi không phải là trang phục của quân nhân. Tất cả chúng tôi đều đi giày thấp cổ, còn mũ và những thứ khác thì y hệt với bọn lính. Có thể hình dung ra khối lượng công việc phải làm để kiếm đủ quân phục, mũ và các thứ khác.1 "
Mô hình phân bổ hỏa lực và mục tiêu chiếm lĩnh
Trận tấn công vào lúc tờ mờ sáng ngày 26 tháng 7 hướng tới mục tiêu làm chủ hoàn toàn trung đoàn lính có quân số khoảng một ngàn năm trăm tên của địch. Theo thiết kế chiến thuật của Fidel Castro, lực lượng một trăm hai mươi chiến sĩ đánh Moncada được phân chia thành ba mũi tấn công phối hợp chặt chẽ nhằm bao vây và vô hiệu hóa sinh lực địch bằng yếu tố bất ngờ.
Mũi thứ nhất gồm ba mươi lăm người do Abel Santamaría, phó chỉ huy trưởng phong trào dẫn đầu, có nhiệm vụ đánh chiếm bệnh viện dân sự nằm giáp phía sau dãy nhà ngủ của lính. Đi cùng mũi này có hai phụ nữ là Haydée Santamaría, Melba Hernández và bác sĩ Mario Muñoz với nhiệm vụ thiết lập trạm y tế chiến trường. Điểm mấu chốt của mũi này là chiếm lĩnh bức tường cuối bệnh viện, một vị trí địa hình thuận lợi để đặt hỏa lực khống chế toàn bộ phần sau dãy nhà ngủ của lính.
Mũi thứ hai do một thanh niên chỉ huy, trong đó có sự tham gia của Raúl Castro với tư cách một chiến sĩ trong hàng ngũ, có nhiệm vụ đánh chiếm trụ sở Tòa án gồm mấy tầng cao để khống chế sân sau doanh trại từ trên cao.
Fidel Castro làm rõ sơ đồ phân bổ hỏa lực toàn diện này bằng việc giải thích vị trí của mũi chủ lực do ông trực tiếp điều hành:
"Tôi đi cùng nhóm thứ ba, 90 người, có nhiệm vụ đánh chiếm bốt gác và Ban Tham mưu với tám hoặc chín người, số còn lại sẽ đánh chiếm dãy nhà lính. Khi tôi dừng lại thì các xe khác cũng sẽ dừng lại trước các dãy nhà, nơi bọn lính đang ngủ và sẽ dồn chúng ra sân sau doanh trại. Cái sân này sẽ nằm dưới tầm khống chế của Abel và nhóm đánh chiếm Tòa án. Những tên lính tối thiểu chỉ còn mặc quần lót, bởi vì chúng sẽ không kịp mặc quần áo và cầm vũ khí. Không có đường thoát cho chúng và tất cả chúng tôi đều ngụy trang thành trung sĩ.2 "
Khi trung đoàn Moncada bị vô hiệu hóa, số vũ khí hàng ngàn khẩu tại kho dự trữ sẽ được tước đoạt để phát cho nhân dân, tạo tiền đề bẻ gãy các lực lượng cảnh sát và hải quân yếu hơn trong thành phố. Đồng thời, cánh quân gồm bốn mươi người do Martínez Ararás chỉ huy được cử đến tấn công Trại lính Bayamo cách đó 130 km nhằm mục đích đánh sập chiếc cầu qua sông Cauto, chặn đứng toàn bộ viện binh đường bộ của địch từ Holguín kéo về Santiago.
Phân tích sự cố chiến thuật và diễn biến làn đạn xối xả
Tác động của toán tuần tra cơ động ngoài kế hoạch
Trận tấn công bùng nổ đúng 5 giờ 15 phút sáng ngày 26 tháng 7, khi ánh sáng bình minh miền Đông vừa xuất hiện nhưng hệ thống phòng ngự của địch vẫn còn ngái ngủ. Do một chiếc xe bị hỏng dọc đường và một chiếc xe chở nhóm năm sinh viên dao động phút cuối quay đầu, lực lượng thực tế tiến về cổng chính bị sụt giảm cơ học. Chiếc xe đi đầu tiên chở nhóm của Ramirito Valdés, Jesús Montané và Renato Guitart đã tiến sát vọng gác cổng, nhanh chóng xuống xe khống chế bọn lính gác để chuẩn bị tháo xích chắn cổng. Fidel Castro lái chiếc xe thứ hai đi phía sau cách khoảng tám mươi mét để chủ động điều chỉnh tốc độ.
Đúng vào khoảnh khắc quyết định này, một sự cố ngẫu nhiên ngoài dự kiến đã làm đảo lộn toàn bộ thiết kế chiến thuật của trận đánh. Trực diện đối đầu với làn đạn, Fidel Castro thuật lại diễn biến chi tiết của sự cố nổ súng sớm ngoài cổng:
"Đúng lúc đó, tôi nhìn thấy trên vỉa hè bên trái đường, trước xe tôi khoảng 20 mét, có một đội tuần tra gồm hai tên lính mang theo súng tiểu liên Thompson. Chúng đã nhận ra có chuyện bất thường ở cổng trại, cách chúng có khoảng 60 mét [...] Khi tôi thấy hai tên lính đang chĩa tiểu liên về phía cổng trại lính, và quay lưng lại về phía tôi, tôi cho xe giảm tốc độ và tiến gần tới để bắt sống bọn chúng. [...] Tôi định làm hai việc cùng một lúc: ngăn không cho chúng bắn vào nhóm người của Ramirito và Montané và đoạt lấy hai khẩu tiểu liên Thompson mà chúng đang cầm. [...] Tôi chỉ còn cách chúng hai mét, nhưng dường như chúng đã nhận ra [...] Tôi cho xe đang còn chạy lao thẳng vào chúng. Cửa xe đã hé mở, tôi nhảy xuống đất. Những người cùng đi với tôi cũng vội nhảy ra khỏi xe.1"
Hành động lao xe này đã kích hoạt phản xạ của toán tuần tra và một người cùng đi trên xe của Fidel từ ghế phải phía trước nhảy xuống đã nổ súng phát đầu tiên, kéo theo một loạt súng nổ theo của các chiến sĩ phía sau. Tiếng súng nổ sớm ngoài doanh trại đã lập tiếp kích hoạt hệ thống còi báo động inh ỏi, vang lên cùng tiếng súng tạo nên những tiếng động liên tục và kinh hoàng, dập tắt hoàn toàn yếu tố bất ngờ chiến lược. Sau này, khi đúc kết kinh nghiệm sử học, Fidel Castro thẳng thắn thừa nhận đây là một sai lầm về mặt chiến thuật do thiếu kinh nghiệm chiến đấu: đáng lý ra lúc đó ông phải cho xe lờ hai tên lính tuần tra đi để lao thẳng vào bên trong cổng trại lính.
Sự sai lệch định vị không gian và sự sụp đổ hệ thống liên lạc
Tiếng còi báo động và loạt súng nổ sớm đã tạo nên một trạng thái hỗn độn không thể tránh khỏi trong hàng ngũ cách mạng. Tất cả những người đi trên những chiếc xe phía sau xe của Fidel do tưởng rằng đã vào được bên trong trại lính theo kế hoạch, nên đã vội vã nhảy xuống xe và tiến vào một tòa nhà dài, đồ sộ có kiến trúc quân sự nằm ngay sát mặt đường. Trên thực tế lịch sử, tòa nhà đó chính là Quân y viện, một địa điểm hoàn toàn không phải là mục tiêu tấn công của chiến dịch. Trận đánh thay vì diễn ra bên trong doanh trại khi lính đang ngủ thì bị đẩy ra xảy ra ở bên ngoài doanh trại khi địch đã thức giấc.
Văn bản ghi lại hành động khắc phục khủng hoảng đầy khẩn trương của tổng chỉ huy:
"Khi chúng tôi xuống xe thì tổ tuần tra lưu động đã biến mất. Tôi vào ngay trong ngôi nhà Quân y viện để đưa những người vào nhầm trong đó ra ngoài. Họ chỉ mới vào đến tầng trệt của tòa nhà. Tôi đã làm được việc này một cách khẩn trương và cấp bách. Gần như tôi đã tổ chức lại được đoàn xe gồm sáu hoặc bảy chiếc, bởi vì, dù mọi chuyện đã xảy ra như vậy, nhưng chúng tôi đã chiếm được cổng trại lính. [...] bỗng một trong những chiếc xe đi phía sau vụt chạy vượt qua chúng tôi như cơn lốc về phía cổng trại lính, rồi lùi lại cũng nhanh như vậy, và đụng vào xe của tôi.1"
Sự cố đâm xe này đã làm tê liệt phương tiện cơ động chính của mũi chủ lực. Trong khi đó tại cánh cổng chính, nhóm của Ramirito và Montané dù đã chiếm được vọng gác và tiến vào dãy nhà lính đầu tiên để tìm kho súng, nhưng chỉ gặp đội lính kèn đang ngủ vì toàn bộ vũ khí chính quy đã được chuyển đến doanh trại chính từ trước. Hệ thống liên lạc giữa Fidel với các mũi của Abel và Raúl bị cắt đứt hoàn toàn, bộ chỉ huy chỉ có thể phỏng đoán diễn biến qua tiếng súng chiến trường. Khi nhận thấy một nhúm người không thể đánh chiếm được một doanh trại có hơn một ngàn quân đã thức dậy, được trang bị đầy đủ súng máy và súng cối, Fidel Castro nhận ra mục tiêu ban đầu hoàn toàn bất khả thi và đưa ra quyết định ra lệnh rút lui sau khoảng ba mươi phút chiến đấu dữ dội.
Cuộc chiến bọc hậu của tổng chỉ huy và vai trò của Santana
Quyết định rút lui đặt lên vai Fidel Castro trách nhiệm bảo vệ sinh mạng của các đồng chí. Giữa đường phố đầy làn đạn xối xả, trên sân thượng của tòa nhà chính doanh trại, địch đã bố trí một khẩu đại liên 50 ly có tầm quét đạn hủy diệt xuống mặt đường. Fidel Castro thuật lại cuộc đấu trí tay đôi đầy căng thẳng nhằm bóp nghẹt hỏa lực của địch để bảo vệ anh em:
"trên sân thượng của một trong những tòa nhà chính của doanh trại được bố trí khẩu đại liên 50 ly, đủ khả năng quét đạn xuống đường phố [...] Có một người đang cố điều khiển khẩu đại liên, hình như chỉ có một mình, trông như một con khỉ nhỏ đang nhảy thật nhanh và cơ động gấp đến nơi đặt khẩu súng. Tôi phải đối phó với hắn, trong khi những người khác lên xe và rút lui. Mỗi khi hắn định với lấy súng thì tôi lại bắn về phía đó. [...] Mấy lần hắn định làm chuyện đó. Rút cục, hình như hắn quyết định bỏ cuộc [...] trong lúc tôi đang chăm chú theo dõi tên lính với khẩu đại liên kia, thì các xe của chúng tôi bắt đầu rút lui1"
Khi toàn bộ các chiến sĩ đã lên xe, Fidel Castro nhường vị trí ở băng ghế sau chiếc xe cuối cùng cho một đồng chí vừa chạy đến, chấp nhận ở lại một mình giữa đường phố, cô đơn và hoàn toàn hững hờ với cái chết. Giữa khoảnh khắc sinh tử đó, Santana tức Teodulio Mitchell, người lái xe thuộc nhóm Artemisa, bằng một hành động anh hùng tự phát, đã cho chiếc xe quay ngược trở lại giữa địa ngục đạn lửa để đón Fidel Castro lên xe thoát hiểm. Fidel ra lệnh cho xe chạy về hướng El Caney để tấn công một đồn lính nhỏ nhằm hỗ trợ cánh quân Bayamo, nhưng chiếc xe đi đầu tiên đã nhầm đường rẽ sang phải về hướng Siboney, buộc toàn bộ lực lượng ít ỏi còn lại phải rút lui trở lại trang trại nuôi gà để chỉnh đốn đội ngũ, kết thúc giai đoạn chiến đấu đô thị trực diện.
Ý nghĩa của cuộc tấn công trại lính Moncada
Thống kê tổn thất và bản chất bạo lực của chế độ độc tài
Việc phân tích các số liệu nhân mạng sau trận tấn công Moncada là một minh chứng khoa học bóc trần bản chất tàn bạo của chính phủ độc tài Fulgencio Batista. Theo lời xác nhận mang tính thực chứng cao của Fidel Castro, tổn thất thực tế của phong trào trong quá trình đấu súng chiến đấu trực diện là rất nhỏ:
"Có năm người bị chết trong chiến đấu, còn 56 người khác thì bị giết hại sau đó. Năm người hy sinh trong chiến đấu là Gildo Fleitas, Flores Betancourt, Carmelo Noa, Renato Guitart và Pedro Marrero. Hầu hết là những người đi trên chiếc xe đầu tiên và cố thủ ở tòa nhà đầu tiên trong doanh trại, sau khi chiếm được vọng gác cổng.1 "
Ngược lại với con số thương vong ít ỏi ngoài mặt trận, số lượng chiến sĩ bị sát hại sau khi trận đánh kết thúc đạt tới con số kinh hoàng là năm mươi sáu người. Những người này, bao gồm cả phó chỉ huy Abel Santamaría, sau khi bị bắt làm tù binh đã phải trải qua các hành vi tra tấn dã man và bị giết hại phi pháp bởi binh lính của Batista. Việc thảm sát tù binh này không chỉ vi phạm các quy tắc chiến tranh tối thiểu mà còn phơi bày sự hoảng loạn mang tính hệ thống của một chính quyền chuyên chế bất hợp pháp khi đối diện với sức mạnh bạo lực cách mạng.
Quy luật của một thắng lợi chiến lược từ một thất bại chiến thuật
Dưới góc nhìn sử học mácxít hiện đại, cuộc tấn công Trại lính Moncada ngày 26 tháng 7 năm 1953 là một ví dụ điển hình về sự vận động biện chứng của lịch sử, nơi một thất bại quân sự cụ thể trong ngắn hạn lại là tiền đề bắt buộc cho một chiến thắng chính trị vĩ đại trong dài hạn. Fidel Castro đã đưa ra một nhận định có chiều sâu sử học sâu sắc khi ông khẳng định rằng, nếu phong trào giành chiến thắng quân sự tại Moncada vào năm 1953, thì đó sẽ là một thắng lợi quá sớm cho tiến trình cách mạng Cuba.
Để lý giải luận điểm này một cách thực chứng, văn bản lưu giữ lời phân tích sắc bén của Fidel về tương quan chính trị quốc tế đương thời:
"nếu chúng tôi giành thắng lợi ở Moncada [...] thì đấy là một thắng lợi quá sớm. Mặc dù chưa được tính trước, sau khi cách mạng thắng lợi năm 1959, sự ủng hộ của Liên Xô là có ý nghĩa cơ bản. Sự ủng hộ này sẽ không có thể được vào năm 1953. Lúc đó, ở Liên Xô, tư tưởng và chính sách của Xtalin là thống soái. Mặc dù tính đến tháng 6 năm 1953, Xtalin đã mất trước đó mấy tháng, tức là vào tháng 3 năm 1953, nhưng vẫn là thời đại của Xtalin. Và Xtalin không phải là Khrútxốp.2"
Một cuộc cách mạng non trẻ nổ ra tại Biển Caribbean năm năm mươi ba sẽ bị bóp nghẹt lập tức bởi Mỹ mà không có bất kỳ một chiếc ô bảo vệ quốc tế nào. Do đó, sự đổ vỡ cơ học tại Moncada là một sự thanh lọc lịch sử cần thiết. Nó đã dập tắt hoàn toàn mớ hỗn độn các phe nhóm ba hoa chính trị tư sản, thức tỉnh bản năng giai cấp của hàng triệu quần chúng lao động nghèo khổ tại Cuba.
Lời tự bào chữa tại tòa án của Fidel Castro sau đó đã biến thành một cương lĩnh chính trị dẫn dắt toàn thể dân tộc bước vào cuộc chiến tranh du kích không chính quy tại vùng núi Sierra Maestra. Khi Fidel Castro cùng mười chín chiến sĩ kiên cường còn lại quyết định mang theo vũ khí chạy lên núi, từ chối mọi sự đầu hàng hay nộp mình cho địch, họ đã hiện thực hóa lời thề sắt đá được ghi lại ở cuối văn kiện:
"Tôi sẽ không nộp mình, không đầu hàng, hay làm chuyện gì tương tự như thế, chẳng đắn đo gì, không phải vì sợ rằng chúng cũng sẽ giết mình, mà bởi vì ý tưởng đầu hàng không hề có trong suy nghĩ của chúng tôi.1 "
Hành động kiên cường này đã đặt viên gạch nền tảng đầu tiên cho sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ Batista vào năm 1959, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho đất nước Cuba.
Phân tích những nội dung có tính chất tự thuật của Lãnh tụ Fidel Castro về “Cuộc tấn công trại lính Moncada” qua những cuộc trả lời phỏng vấn của Fidel Castro với nhà báo Ignacio Ramonet, chúng ta có thể rút ra ba kết luận như sau:
Thứ nhất, văn bản đã giải mã thành công mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong bối cảnh một đất nước thuộc địa kiểu mới. Sự chuyển hóa từ trạng thái bản năng giai cấp tự phát của khối thanh niên Đảng Chính thống thành một ý thức giai cấp tự giác mácxít không phải là một quá trình áp đặt lý luận giáo điều, đây là một sự thức tỉnh quy luật khách quan thông qua các luận cứ sát sườn và sự vạch trần tính phi lý của chế độ kinh tế sản xuất tư bản đại địa chủ.
Thứ hai, tác phẩm chứng minh tính đúng đắn của tư duy quân sự thực tiễn, biết vượt qua sự thiếu hụt về mặt tài chính và khí tài chính quy bằng cách tối ưu hóa công năng của các loại vũ khí thô sơ trong địa hình tác chiến cự ly gần. Sự thất bại quân sự ngoài mặt trận hoàn toàn không xuất phát từ sai lầm của bản thiết kế chiến thuật mà là hệ quả của các yếu tố ngẫu nhiên cơ học mang tính đặc thù của chiến trường đô thị.
Thứ ba, và cũng là giá trị cốt lõi nhất, tác phẩm khẳng định chân lý sử học về vị thế của người tiên phong cách mạng. Một nhà lãnh đạo chân chính phải là người có năng lực nhìn thấu xu thế vận động của thời đại, biến một thất bại chiến thuật ngắn hạn thành một ngọn hải đăng chính trị dài hạn, và luôn duy trì một tinh thần quyết chiến chiến lược, không bao giờ thỏa hiệp hay đầu hàng trước áp bức giai cấp. Đây cũng chính là quy luật vận động của các phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới./.
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr174
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr172
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr172
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr174
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr178
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr175
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr179
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr182
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr190-193
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr176
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr189
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr194
2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr197
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr199-200
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr201-202
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr203
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr207
2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr185-186
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr208