Khi bị chính quyền của Tổng thống Fulgencio Batista bắt và phải ra tòa năm 1953, lãnh tụ Fidel Castro đã có bài tự bào chữa nổi tiếng với tên gọi "Lịch sử sẽ bào chữa cho tôi". Sau khi ra tù, lãnh tụ cách mạng Fidel Castro đã thành lập lực lượng du kích có tên là Phong trào 26-7, phát huy những lý tưởng cách mạng ở Cuba bấy giờ.
Trong bối cảnh lịch sử bấy giờ, đây là một sự tiếp cận mang tính loại trừ đối với đại đa số giai cấp lao động tại Cuba. Con em của nông dân và công nhân tại các trang trại trồng mía ở các quận huyện xa xôi hầu như không có cơ hội học đến bậc tú tài, và việc bước chân vào Đại học La Habana, nơi vốn chỉ dành cho tầng lớp trung lưu và người giàu là điều bất khả thi. Fidel Castro đã thẳng thắn thừa nhận nghịch lý này thông qua lời tự thuật:
"Có lẽ nào tôi là một người may mắn nhất so với bất cứ ai trong số hàng trăm chú bé nghèo khó ở Birán, hầu như không ai trong bọn họ học đến lớp sáu và không ai tốt nghiệp tú tài, không ai vào được một trường đại học?1"
Nền tảng xuất thân và sự tác động của môi trường điền trang Birán
Tuy nhiên, sự hình thành tư tưởng ủng hộ giai cấp vô sản của Fidel Castro lại xuất phát từ chính những trải nghiệm thực tế trong lòng phương thức sản xuất điền trang tại Birán. Môi trường sống thời niên thiếu đã cung cấp cho ông những chất liệu thực tiễn đầu tiên để nhận thức về sự phân hóa giai cấp. Điền trang của gia đình ông có phương thức vận hành mang tính nhân văn hơn nếu đặt trong tương quan so sánh với các đồn điền thuộc quyền sở hữu của các tập đoàn xuyên quốc gia như Công ty United Fruit. Tại các đồn điền của Mỹ, hệ thống quản đốc và đốc công điều hành hoàn toàn dựa trên một ngân sách cứng nhắc được phê duyệt từ New York, loại bỏ mọi khả năng cứu trợ xã hội đối với người lao động. Ngược lại, cha của Fidel Castro trực tiếp sống tại thực địa, di chuyển không có lực lượng bảo vệ hay người hộ tống, duy trì sự tiếp xúc và đối thoại hằng ngày với người dân địa phương. Ông thấu hiểu nỗi khổ khi họ đến cầu xin và có thể giải quyết ngay tại chỗ. Như Fidel Castro đã phân tích:
"Tôi cũng đã kể với anh điều đã ảnh hưởng nhiều đến tôi là tôi sinh ra ở nông thôn và là con, chứ không phải là cháu của địa chủ. Tôi đã từng sống trong hoàn cảnh đó và khi ấy, tôi đã nhận thức được khi đọc Mác, bởi vì tôi đã thấy tận mắt cuộc sống ở các điền trang như thế nào.2 "
Chính việc chứng kiến trực tiếp cuộc sống của con người trong không gian đó, kết hợp với trải nghiệm gian khổ cá nhân như việc từng phải chịu đói, đã tạo tiền đề giúp ông dễ dàng hiểu rằng bản thân đang sống trong một xã hội có nhiều bất bình đẳng và bất công. Thêm vào đó, điều kiện tự nhiên tại vùng nông thôn cùng thói quen sử dụng các loại vũ khí thể thao và súng trường của gia đình từ nhỏ (như các dòng súng Winchester, Máuser hay súng săn bán tự động Browning) mà không cần xin phép đã vô hình trung rèn luyện cho ông kỹ năng của một xạ thủ giỏi và sự am hiểu sâu sắc về địa hình rừng núi. Từ nhỏ, ở Birán, ông đi đâu cũng luôn mang theo vũ khí và thậm chí từng tự đóng vai trò người bảo vệ đàn gà con bằng cách bắn những con chim kền kền đậu trên cột cao gần nhà. Đây là những yếu tố cấu thành nên năng lực thực tiễn và sự gắn bó với đời sống tự nhiên của ông về sau.
Môi trường Đại học La Habana và xung đột chính trị thực tiễn
Khi chính thức nhập trường đại học vào ngày 4 tháng 9 năm 1945, Fidel Castro tự nhận diện bản thân là một người "mù chính trị". Ngôi trường này thời bấy giờ đang chịu sự chi phối toàn diện bởi một nhóm lợi ích có mối liên hệ mật thiết với chính phủ của Tổng thống Grau San Martín. Đây không thuần túy là không gian học thuật mà là một cấu trúc bị chính trị hóa sâu sắc, bị kiểm soát bởi một nhóm liên kết với chính quyền, nơi các nhà lãnh đạo chính của trường đại học sở hữu các vị trí, chức vụ, bổng lộc và mọi nguồn chu cấp từ chính phủ. Kể từ khi nhập học năm thứ nhất, ông đã nhận thấy một "không khí bạo lực, lo sợ và sặc mùi vũ khí".
Trong bối cảnh đó, bước dấn thân đầu tiên của Fidel Castro được đánh dấu bằng việc tham gia vào hoạt động chính trị sinh viên và trở thành ứng cử viên đại biểu của khóa học. Ông trúng cử với tỷ lệ phiếu áp đảo: 181 phiếu thuận và 33 phiếu chống. Khi tiến trình bầu cử Chủ tịch Liên đoàn Sinh viên Đại học (FEU) cận kề, Fidel Castro đã lựa chọn lập trường đối lập mạnh mẽ với ứng cử viên được chính phủ bảo trợ. Quyết định này ngay lập tức đẩy ông vào thế đối đầu trực diện với các nhóm mafia vốn đang thống trị trường đại học, mang lại cho ông những áp lực về thể xác và những lời đe dọa rất nặng nề. Đỉnh điểm của sự xung đột diễn ra khi ông đang học năm thứ hai trường Luật, phe trục lợi này đã áp dụng một biện pháp mạnh mẽ để trấn áp: cấm ông bước vào trường đại học.
Sự kiện bị trục xuất khỏi không gian học đường đã tạo ra một cuộc khủng hoảng tâm lý nghiêm trọng đối với một thanh niên ở độ tuổi 20. Đối diện với sự bất cân xứng hoàn toàn về lực lượng khi kẻ thù có vũ trang, thiên về giết người, được sự ủng hộ của cả bộ máy cảnh sát và chính phủ tham nhũng của Grau, trong khi bản thân ông chỉ có một sức mạnh tinh thần duy nhất là quần chúng sinh viên ngày càng đông đảo ủng hộ, Fidel Castro đã trải qua những giây phút cô độc và suy sụp. Ông nhớ lại:
"Tôi đã khóc. Đúng thế đấy. Tôi đi ra bãi biển để suy tính và với độ tuổi 20 của mình, tôi nằm sấp trên cát, đầm đìa nước mắt. Vấn đề vô cùng phức tạp. Tôi đã đối đầu với mọi quyền lực và sự lộng hành.1"
Tuy nhiên, ông đã lựa chọn giải pháp phản kháng và sẵn sàng chiến đấu thay vì chấp nhận sự nhục nhã vì phải tránh mặt ở trường đại học. Với một khẩu súng lục Browning có băng đạn 15 viên do một người bạn cung cấp, Fidel Castro quyết định đánh liều với sinh mệnh của mình. Ông quay lại trường cùng với năm thanh niên tự phát đi cùng, tất cả đều được vũ trang, và chặn đứng hành động của những kẻ cấm cửa. Cuộc đấu tranh vũ trang đầu tiên và riêng biệt này của ông chống chính phủ và quyền lực nhà nước không đặc trưng ở việc sử dụng vũ khí, mà là ở biểu hiện của một loạt nguy cơ thách thức không thể tưởng tượng được, bao gồm cả nguy cơ bị bắt giữ bởi các tòa án khẩn cấp. Trải nghiệm khốc liệt này đã hình thành nên một nguyên tắc hành động xuyên suốt:
"Sự cảnh báo liên tục, sự coi thường những hiểm nguy, giống như những cái roi da trong tay một người dạy thú dữ, đã dạy tôi rằng danh dự, tinh thần và sự thật là những vũ khí bất diệt.1 "
Tiến trình chuyển hóa tư tưởng: Từ lý luận kinh tế tư sản đến chủ nghĩa Mác - Lênin
Song song với các hoạt động thực tiễn, tiến trình chuyển hóa thế giới quan của Fidel Castro diễn ra thông qua con đường tự học và nghiên cứu lý luận một cách độc lập. Tại đại học, ông tự nhận mình là "một tấm gương xấu của sinh viên, vì không bao giờ đến lớp". Thay vào đó, ông dành thời gian thảo luận các lý thuyết với các bạn học ở vườn trường dưới những chùm nguyệt quế và buộc phải chọn hình thức đăng ký học tự do từ năm thứ ba. Ông tập trung học thật sự ba chuyên ngành na ná nhau là Luật, Luật Ngoại giao và Khoa học xã hội, đăng ký tới 50 môn học tự do và học từ 15 đến 16 giờ mỗi ngày trong giai đoạn cuối khóa.
Bước ngoặt tư tưởng bắt đầu từ việc ông nghiên cứu môn Kinh tế chính trị học trong năm thứ nhất đại học, do giáo sư Portela giảng dạy thông qua một tập tài liệu dày 900 trang in rônêô. Dù trả lời trôi chảy bài thi vấn đáp và đạt điểm cao, Fidel Castro bắt đầu vấp phải các lý thuyết về giá trị và đặt dấu hỏi về hệ thống tư bản. Càng học về môn kinh tế chính trị học tư sản này, ông càng nhận ra sự vô lý của nó. Trước khi tiếp cận trực tiếp với các tài liệu mácxít, ông tự đi đến kết luận rằng chế độ đó không thích hợp và tự biến mình thành một "người cộng sản không tưởng". Ông định nghĩa:
"Người cộng sản không tưởng là người không xuất phát từ một nền tảng khoa học, cũng không phải lịch sử, mà là từ điều gì đó mà người ấy cảm thấy rất xấu, từ sự tồn tại của nạn nghèo đói, sự bất công, sự bất bình đẳng, một mâu thuẫn không thể khắc phục được giữa xã hội và sự phát triển thật sự. Đồng thời, tôi đã là một người có một đạo lý, tôi xin nói đó là đạo lý đến với chúng tôi chủ yếu thông qua Martí.1"
Hệ thống tư tưởng mang tính trực cảm đó chỉ thực sự đạt đến độ triệt để khi ông tiếp cận với văn bản mácxít và lêninnít trong bối cảnh trường đại học bị bủa vây bởi chủ nghĩa McCarthy và chủ nghĩa chống cộng. Vào năm 1945, trong số 15 nghìn sinh viên, chỉ có chưa đầy 50 người có tư tưởng chống đế quốc còn hoạt động tích cực. Những người cánh tả lúc đó thậm chí nhìn ông như một nhân vật xa lạ và nhận định: "Con của địa chủ và tốt nghiệp trường Belén, anh này chắc phải là kẻ phản động nhất thế giới2".
Bất chấp sự cô độc đó, Fidel Castro bị chinh phục hoàn toàn bởi tính xác thực của các công trình mácxít, ví von rằng: "Nếu những tiếng hát quyến rũ của nàng tiên cá đã chinh phục được chàng Ulises thì những sự thật không thể chối cãi mà các học giả mácxít tố giác đã chinh phục được tôi3". Chủ nghĩa Mác đã dạy cho ông biết xã hội là gì, giúp ông thoát khỏi trạng thái "như con nai hoặc một người đi trong rừng không biết đâu là phương Bắc, phương Nam4". Ông nhận ra nếu không hiểu lịch sử đấu tranh giai cấp, con người sẽ chìm đắm trong khái niệm về sở hữu tư sản và coi sự bóc lột là điều tự nhiên nhất của thế giới.
Cấu trúc thế giới quan cách mạng của Fidel Castro được định hình vững chắc dựa trên sự kế thừa từ ba nguồn mạch lớn mà ông gọi là ba điểm cơ bản tiếp thu từ các nhà tư tưởng lớn:
* Đạo đức của José Martí: Cung cấp nguồn cảm hứng, tấm gương và đặc biệt là nền tảng đạo đức cách mạng trong sáng để chống lại sự kiêu căng và tham vọng. Ông luôn ghi nhớ câu nói của Martí: "Mọi vinh quang trên thế giới chỉ chứa đủ trong một hạt ngô5".
* Học thuyết khoa học của Karl Marx: Cung cấp khái niệm về xã hội loài người và lịch sử phát triển của nó. Các tác phẩm yêu thích của ông bao gồm: Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (cuốn sách gây ấn tượng lớn nhất, giúp ông giải mã thực tế đời sống điền trang), Nội chiến ở Pháp, Ngày 18 tháng Sương mù, và Phê phán Cương lĩnh Gôta.
* Chiến lược hành động của V.I. Lenin: Mang lại phương pháp luận về nhà nước và đấu tranh chính trị thông qua các tác phẩm Nhà nước và cách mạng và Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản.
Hoạt động thực tiễn và bài học từ các phong trào cách mạng Mỹ Latinh
Hành trình chính trị của Fidel Castro sớm mang chiều kích quốc tế chống đế quốc và chống độc tài. Vào tháng 7 năm 1947, với tư cách là Chủ tịch Ủy ban ủng hộ nền dân chủ Đôminica của Tổ chức FEU, ông gia nhập cuộc viễn chinh Cù lao Confites nhằm tham gia vào cuộc đấu tranh lật đổ chế độ độc tài Trujillo ở Cộng hòa Đôminica. Cuộc viễn chinh này xuất phát từ Cuba và kết thúc trong sự thất bại, phần lớn các chiến sĩ tình nguyện bị bắt giữ do tình trạng lộn xộn và vô tổ chức bao trùm.
Tuy nhiên, về mặt nhãn quan quân sự, thất bại này mang ý nghĩa quyết định đối với Fidel Castro. Từ thực tế khống chế của quân đội chính quy Trujillo về hải quân và không quân, ông rút ra bài học rằng việc chiến đấu trực diện là một sai lầm. Từ bản năng của một người sinh ra ở nông thôn và am hiểu núi rừng, ông bắt đầu ấp ủ ý tưởng về phương pháp chiến tranh không chính quy, tức là hình thức chiến tranh du kích dựa vào địa hình rừng núi, một chiến lược ban đầu được ông hoạch định cho vùng núi Santo Domingo khi làm đại đội trưởng và sau này trở thành xương sống cho chiến dịch tại Sierra Maestra. Ông khẳng định:
"Tôi tin ở cuộc chiến tranh không chính quy do bản năng, vì tôi sinh ra ở nông thôn, vì tôi hiểu biết núi rừng và vì tôi hiểu ra rằng cuộc viễn chinh ấy là một thảm bại. Thực tế đã khẳng định lại sự tin chắc của tôi là không thể chiến đấu trực diện chống lại một quân đội dù ở Cuba hoặc ở Cộng hòa Đôminica...1 "
Năm 1948, Fidel Castro có mặt tại Bogotá (Colombia) để tổ chức Đại hội sinh viên Mỹ Latinh nhằm xây dựng một liên đoàn sinh viên ủng hộ chủ quyền đối với quần đảo Malvinas, đòi độc lập cho Puéctô Ricô, lật đổ Trujillo và đòi lại kênh đào Panama. Tại đây, ông đã trực tiếp trải nghiệm sự kiện "Bogotazo" nổ ra ngay sau vụ ám sát nhà lãnh đạo chính trị cấp tiến Jorge Eliécer Gaitán vào ngày 9 tháng 4.
Fidel Castro đã trực tiếp hòa mình vào làn sóng nổi dậy tự phát của quần chúng nhân dân cướp lấy vũ khí và tiếp nhận một khẩu súng từ đồn cảnh sát khi lực lượng này bỏ chạy. Việc chứng kiến một cuộc cách mạng nhân dân hoàn toàn tự phát, quy mô lớn nhưng thiếu thốn một ban lãnh đạo tổ chức chặt chẽ dẫn đến sự hủy diệt và tổn thất hàng ngàn sinh mạng đã để lại bài học lịch sử sâu sắc. Trải nghiệm này củng cố tinh thần phản kháng của ông, dù lúc đó tư tưởng mácxít còn mới mẻ và hành động của họ chủ yếu mang tính chất chống đế quốc, chống thực dân của những thanh niên thấm nhuần tư tưởng của Martí.
Mối liên hệ với Đảng Chính thống và bi kịch của Eduardo Chibás
Trong tiến trình tìm kiếm một công cụ chính trị hiệu quả để chống lại sự yếu kém và tham nhũng của chính quyền cầm quyền, Fidel Castro đã tiếp xúc và ủng hộ Đảng Nhân dân Cuba (tức Đảng Chính thống) do Eduardo Chibás sáng lập năm 1947. Chibás là một chính trị gia có uy tín xã hội sâu rộng, tạo dựng ảnh hưởng thông qua chương trình phát thanh kéo dài 30 phút vào tối Chủ nhật hằng tuần để liên tục tố cáo nạn tham ô, đầu cơ và vạch mặt các công ty độc quyền tư bản.
Mặc dù thừa nhận vai trò tập hợp quần chúng của Chibás, Fidel Castro đã nhận diện rõ giới hạn mang tính giai cấp của phong tào này: Chibás có tư tưởng công dân tiến bộ nhưng sự thay đổi xã hội mang tính cách mạng không phải là mục tiêu chính của ông. Bi kịch của Chibás xảy ra khi ông lên án Bộ trưởng Giáo dục sở hữu các trang trại ở Guatemala nhưng lại không thể cung cấp bằng chứng pháp lý cần thiết do nguồn tin cậy cung cấp thông tin thiếu chứng cứ. Dưới áp lực bị lên án là dối trá và vu khống, Chibás rơi vào trạng thái suy sụp và tự sát bằng một phát đạn bắn vào bụng ngay khi kết thúc chương trình phát thanh Chủ nhật vào tháng 8 năm 1951.
Cái chết của Chibás đã để lại một khoảng trống nghiêm trọng. Người kế thừa thời lượng phát thanh là José Pardo Llada đã không tiếp tục duy trì chiến lược công kích Batista một cách hệ thống như Chibás từng làm. Nhận thức được nguy cơ đảo chính quân sự từ các dấu hiệu chuẩn bị bạo loạn của Batista, Fidel Castro đã đề xuất ban lãnh đạo Đảng Chính thống cho phép ông sử dụng giờ phát thanh cũ của Chibás để lên tiếng tố cáo.
Tuy nhiên, ban lãnh đạo đảng đã từ chối yêu cầu của ông do sự thiển cận và đố kỵ chính trị, lựa chọn tin vào những lời trấn an mơ hồ từ giới sĩ quan quân đội. Fidel Castro buộc phải công bố các tài liệu điều tra về các trang trại mua bằng tiền bất chính của các quan chức chính phủ trên tờ nhật báo Báo động (Alerta). Sự thiếu vắng một diễn đàn phản kháng mạnh mẽ trên sóng phát thanh có uy tín lớn đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đảo chính của Fulgencio Batista diễn ra vào ngày 10 tháng 3 năm 1952.
Cuộc đảo chính ngày 10 tháng 3 năm 1952 và chiến lược bạo lực cách mạng
Trước thời điểm ngày 10 tháng 3 năm 1952, Fidel Castro đã hoàn thành khóa học ngành Luật ở tuổi 24 và đang vận dụng các phương thức đấu tranh hợp pháp bằng việc tự ứng cử chức danh hạ nghị sĩ tỉnh La Habana cho cuộc bầu cử dự kiến diễn ra vào tháng 6 năm 1952. Tuy nhiên, cuộc lật đổ chính phủ hợp hiến của Batista diễn ra một vài tuần lễ trước cuộc bầu cử đã làm đóng băng toàn bộ tiến trình chính trị nghị trường.
Đối diện với tình thế lịch sử mới, Fidel Castro đã thực hiện một bước chuyển trạng thái mang tính chiến lược: khước từ hoàn toàn con đường đấu tranh hợp pháp để chuyển dịch sang tổ chức bạo lực cách mạng. Ông không lựa chọn mô hình xây dựng một đảng quần chúng công khai kiểu cũ, mà vận dụng kinh nghiệm lịch sử của Đảng Bônsêvích về một tổ chức cách mạng triệt để, hoạt động bí mật và có bộ máy lãnh đạo tinh gọn. Lập luận của ông dựa trên nguyên lý:
"Các đảng cách mạng triệt để nhiều khi sinh ra trong bí mật, được thành lập và lãnh đạo bởi rất ít người. Nói chung là những đảng vững chắc nhất và có thể tồn tại lâu dài.1"
Xuất phát từ một tổ chức phôi thai ban đầu chỉ gồm ba hoặc bốn người và một ban điều hành gồm ba người, Fidel Castro cùng các đồng chí như Abel Santamaría và Montané đã xây dựng và huấn luyện một lực lượng cốt lõi gồm 1.200 thanh niên có tinh thần trong sáng, phần lớn xuất thân từ phong trào Thanh niên Chính thống. Chiến thuật của ông trong giai đoạn này thể hiện tính linh hoạt cao: Ông không vội vã áp đặt một cương lĩnh xã hội chủ nghĩa ngay từ đầu mà sử dụng mục tiêu đấu tranh khôi phục lại tình hình trước ngày 10 tháng 3 và trở lại con đường hiến pháp chính trị để tập hợp rộng rãi mọi lực lượng đối kháng. Tuy nhiên, mục tiêu cốt lõi của tổ chức này đã được xác định rõ ràng từ trước: lật đổ Batista bằng vũ trang và cướp chính quyền bằng con đường cách mạng.
Tiến trình này còn chịu ảnh hưởng bởi một bài học đắt giá khác từ lịch sử cận đại của Cuba, đó chính là việc người đầu tiên phản bội phong trào cách mạng bí mật lại chính là một người đồng chí, một người bạn từng sống cùng đảng - Valero, con trai ông nhân viên điện báo ở Birán. Sự việc Valero báo cho cảnh sát của Batista nơi đặt máy in tờ báo bí mật Người tố cáo và Bản Tuyên ngôn đầu tiên do Fidel dự thảo vào tháng 8 năm 1952 đã để lại một bài học sâu sắc về nguyên tắc tổ chức bí mật:
"Anh không được tin một ai đó đơn giản chỉ vì người ấy đã là bạn mình. Đó là một sai lầm.2 "
Hành trình dấn thân vào đời sống chính trị của Fidel Castro từ năm 1945 đến năm 1952 là một tiến trình vận động có tính quy luật, thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa tư duy lý luận lý tính và hoạt động thực tiễn khốc liệt. Việc ly khai triệt để về mặt giai cấp dù xuất thân từ tầng lớp đại địa chủ, sự trưởng thành qua xung đột tại Đại học La Habana, thất bại quân sự tại Cù lao Confites và bài học từ sự kiện "Bogotazo" đã loại bỏ mọi ảo tưởng cải lương trong ông.
Việc tiếp thu học thuyết mácxít - lêninnít kết hợp với nền tảng đạo đức José Martí đã cung cấp cho Fidel Castro một "chiếc la bàn" chiến lược chuẩn xác. Khi cuộc đảo chính của Batista năm 1952 đóng lại con đường hợp pháp, ông đã có một thế giới quan dứt khoát và một cấu trúc tổ chức bí mật tinh gọn để chuẩn bị cho cuộc tấn công Moncada vào năm 1953, mở ra một thời đại chính trị mới dựa trên con đường bạo lực cách mạng triệt để./.
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr154
2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr168
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr158
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr159
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr164 - 165
2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr157
3 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr156
4 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr165-166
5 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr167
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr162
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr146
2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr143