Mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba không đơn thuần là một liên minh ngoại giao truyền thống, mà là một hiện tượng đặc biệt trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại, một biểu tượng của tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, thủy chung và vô tư. Trải qua hơn sáu thập kỷ, tình đoàn kết ấy đã được tôi luyện qua khói lửa chiến tranh, qua những giai đoạn bao vây cấm vận ngặt nghèo nhất, để rồi nở rộ thành những thành tựu hữu hình, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế và công nghệ sinh học (CNSH). Hiện nay, việc nâng tầm hợp tác y sinh học không chỉ là sự tri ân di sản của Lãnh tụ Fidel Castro mà còn là bước đi chiến lược nhằm hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Việt Nam - Cuba ngày càng tăng cường đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực y tế, công nghệ sinh học.
Đó là việc cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; Nghị quyết 72/NQ-CP về tăng cường bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân và đặc biệt là Nghị quyết 1131 của Chính phủ về phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Việc nhìn lại hành trình này giúp chúng ta thấy rõ một tầm nhìn xuyên suốt: biến khoa học thành công cụ phục vụ nhân sinh và biến sự hợp tác Việt Nam - Cuba thành một hình mẫu về tự chủ, tự cường trong bối cảnh toàn cầu hóa đầy biến động.
Di sản Fidel Castro và nền tảng nhân văn của đội quân áo trắng không biên giới
Di sản mà Lãnh tụ Fidel Castro để lại cho Việt Nam mang tính biểu tượng và thực tiễn sâu sắc, bắt nguồn từ triết lý coi y tế là một quyền cơ bản của con người chứ không phải một lĩnh vực kinh doanh lợi nhuận. Đối với Fidel, y học là công cụ mạnh mẽ nhất để thực hiện công bằng xã hội. Hình ảnh vị lãnh tụ khoác áo lính, phất cao lá cờ giải phóng tại Quảng Trị năm 1973 đã trở thành động lực tinh thần vĩnh cửu.
Nhưng quan trọng hơn, ngay sau chuyến thăm đó, Cuba đã tặng Việt Nam những công trình mang tính "xương sống" cho ngành y tế lúc bấy giờ, tiêu biểu nhất là Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba tại Đồng Hới. Đây không chỉ là một món quà, mà là một trung tâm y khoa hiện đại nhất khu vực miền Trung, được thiết kế để chịu được bom đạn và vận hành theo các tiêu chuẩn tiên tiến của phương Tây, cứu sống hàng vạn chiến sĩ và người dân trong giai đoạn tái thiết.
Tầm nhìn của Fidel về một "đội quân áo trắng" không biên giới đã được duy trì và phát triển qua nhiều thập kỷ thông qua các chương trình đào tạo nguồn nhân lực nòng cốt. Cuba đã mở cửa các trường đại học y khoa danh tiếng như Đại học Khoa học Y khoa Havana để tiếp nhận hàng nghìn sinh viên Việt Nam với học bổng toàn phần. Những thế hệ trí thức y khoa này khi trở về đã mang theo không chỉ kiến thức chuyên môn về y tế dự phòng vốn là thế mạnh của Cuba, mà còn cả tinh thần y đức "tận tụy, phục vụ".
Đến nay, di sản này tiếp tục lan tỏa sâu rộng qua các hoạt động kết nối thực chất giữa các cơ sở y tế hàng đầu. Bệnh viện 108 hiện đang định hướng các hợp tác mới về y học dự phòng, trong khi Trung tâm hợp tác nghiên cứu giữa Bệnh viện CIMEQ (Cuba) và Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an) đã chính thức đi vào hoạt động. Các trung tâm này đóng vai trò như những "trạm chuyển tiếp" tri thức, nơi các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị tiên tiến nhất của Cuba được chuyển giao trực tiếp cho y bác sĩ Việt Nam. Việc duy trì các khóa đào tạo ngắn hạn cho cán bộ quản lý và kỹ thuật Việt Nam tại những trung tâm sinh học hàng đầu của Cuba chính là sự tiếp nối hoàn hảo tinh thần của Fidel trong kỷ nguyên số.
Đột phá công nghệ sinh học từ những liên minh về dược phẩm đặc trị
Bước chuyển mình quan trọng nhất hiện nay là sự dịch chuyển sang đối tác chiến lược về công nghệ cao, dựa trên tiềm lực y sinh to lớn của Cuba, quốc gia sở hữu hơn 1.600 bằng sáng chế và xuất khẩu sản phẩm tới hơn 50 nước. Cuba đã xây dựng được một hệ sinh thái khép kín giữa nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa thông qua Tập đoàn BioCubaFarma, đơn vị quản lý hơn 30 công ty và 60 cơ sở sản xuất. Đại dịch COVID-19 là một dấu mốc thực chứng không thể quên khi Cuba tự nghiên cứu thành công vaccine Abdala với hiệu quả bảo vệ lên tới hơn 92%. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ký thỏa thuận mua và tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất loại vaccine này, giúp Việt Nam làm chủ mảng công nghệ protein tái tổ hợp chiến lược.
Sự ra đời của liên doanh Genfarma tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc là một cột mốc lịch sử khác. Với sự hiện diện của các chuyên gia hàng đầu từ Cuba, Genfarma tập trung sản xuất các dòng dược phẩm đặc trị bệnh nan y như ung thư, tiểu đường và suy giảm trí nhớ. Các thành tựu độc bản như Heberprot-P (điều trị loét bàn chân tiểu đường giúp giảm 75% nguy cơ đoạn chi) hay vaccine điều trị ung thư phổi CIMAvax-EGF đang mang lại hy vọng sống cho hàng nghìn bệnh nhân Việt Nam.
Tiềm lực của Cuba còn thể hiện qua các loại vaccine phòng viêm não mô cầu, viêm gan B và các kháng thể đơn dòng điều trị ung thư đầu, cổ như Nimotuzumab. Sự kết hợp giữa năng lực nghiên cứu đột phá của Cuba và khả năng sản xuất, kiểm định của Việt Nam đang tạo ra những sản phẩm y tế mang hàm lượng công nghệ cực cao nhưng giá thành phù hợp, thực hiện hóa mục tiêu làm chủ công nghệ chiến lược phục vụ kinh tế - xã hội.
Để di sản của Fidel tiếp tục tỏa sáng, hợp tác Việt Nam - Cuba đang hướng tới việc xây dựng một hệ sinh thái y sinh học đồng bộ, hội nhập và có tính kết nối đa tầng. Một bước đi mang tính đột phá là việc ra mắt Mạng lưới Công nghệ sinh học nông nghiệp và sức khỏe tự nhiên Việt Nam - Cuba vào tháng 10 năm năm 2025 tại La Habana. Mạng lưới này quy tụ hơn 45 viện nghiên cứu, bệnh viện, trường đại học và doanh nghiệp của hai nước, tạo nên một cộng đồng khoa học sâu rộng để khai thác tối đa tiềm năng y sinh của cả hai dân tộc. Tầm nhìn chiến lược ở đây không chỉ là giải quyết các vấn đề y tế hiện tại mà còn là dự phòng cho các thách thức tương lai thông qua chia sẻ dữ liệu nghiên cứu về y học chính xác và tin sinh học.
Hướng đi tất yếu là biến Việt Nam thành "cầu nối" chiến lược đưa các sản phẩm CNSH Cuba thâm nhập thị trường ASEAN với quy mô hơn 600 triệu dân. Việc thành lập các trung tâm nghiên cứu và ứng dụng chung (như CIMEQ và Bệnh viện 19-8) hay các kết nối đào tạo tại Bệnh viện 108 chính là nền tảng thực hiện khát vọng này. Việt Nam hỗ trợ Cuba về hạ tầng CNTT và số hóa y tế, trong khi Cuba là nguồn cung các phát minh sinh học đột phá.
Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes đã khẳng định “Hợp tác y sinh học giữa Việt Nam và Cuba được xem là bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cũng như Nghị quyết 72 về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân”. Đại sứ cho biết, Việt Nam sẽ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với Cuba trong lĩnh vực y sinh học, hướng tới làm chủ một số công nghệ trọng yếu, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 1131 của Chính phủ về phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.
Theo Đại sứ, kết quả hợp tác không chỉ dừng lại ở việc Cuba chuyển giao công nghệ cho Việt Nam, mà còn mở ra triển vọng tạo ra những công nghệ mới ngay tại Việt Nam, phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe và phát triển kinh tế-xã hội. Trong nhiều năm qua, Việt Nam và Cuba đã duy trì mối quan hệ hợp tác sâu rộng trong lĩnh vực y tế. Nhiều loại vaccine của Cuba, như vaccine phòng viêm gan B và viêm não mô cầu, đã được cấp phép lưu hành tại Việt Nam, góp phần quan trọng vào công tác phòng bệnh (*)
Ngày 23/4/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã làm việc với Tập đoàn dược phẩm Cuba BioCubaFarma về việc trao đổi các định hướng hợp tác trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm công nghệ sinh học, dược phẩm. Tại buổi làm việc, đại diện Bộ KH&CN đánh giá cao thế mạnh của Cuba trong lĩnh vực công nghệ sinh học, dược phẩm, đồng thời khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện với Cuba. Bộ KH&CN sẵn sàng làm đầu mối kết nối, hỗ trợ thúc đẩy hợp tác giữa các cơ quan, doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu của Việt Nam và Cuba. Cùng với đó, Bộ KH&CN đề xuất hai bên nghiên cứu xây dựng cơ chế tài trợ chung giữa các quỹ của Việt Nam như NAFOSTED, NATIF với các đối tác Cuba; thúc đẩy hình thành các nhóm nghiên cứu chung Việt Nam - Cuba; hỗ trợ doanh nghiệp hai nước mở rộng hợp tác thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ, tiến tới thương mại hóa và sản xuất các sản phẩm công nghệ sinh học của Cuba tại Việt Nam. Về phía Cuba, ông Santiago Dueñas Carrera, Phó Chủ tịch Tập đoàn dược phẩm quốc gia Cuba BioCubaFarma, đề xuất thúc đẩy các dự án hợp tác nghiên cứu - phát triển, sản xuất và phân phối tại Việt Nam các sản phẩm dược phẩm sinh học ứng dụng công nghệ Cuba. Phía Cuba cũng bày tỏ mong muốn hai bên tăng cường hợp tác nghiên cứu chung trong lĩnh vực y sinh học và dược, đẩy mạnh trao đổi chuyên gia, đào tạo nguồn nhân lực và phối hợp tổ chức các hội thảo khoa học quốc tế tại Việt Nam và Cuba (**).
Sự cộng hưởng này không chỉ giúp hai quốc gia vượt qua rào cản từ các lệnh bao vây cấm vận, mà còn tạo ra một hình mẫu hợp tác Nam - Nam tiêu biểu nhất trong thế kỷ XXI. Đó là sự hợp tác dựa trên sự tôn trọng, tin tưởng và khát vọng chung về một hệ thống y tế tự cường. Hành trình tiếp nối di sản Fidel chính là việc cụ thể hóa tình cảm thành những sản phẩm khoa học cụ thể, những mạng sống được cứu và một tương lai khỏe mạnh cho nhân dân hai nước. Việt Nam và Cuba sẽ tiếp tục cùng nhau viết nên những chương mới trong cuốn sử xanh của y khoa nhân loại, nơi trí tuệ và lòng nhân ái luôn song hành vì sự phát triển bền vững của cộng đồng quốc tế./.