Fidel Castro đã nhiều lần khẳng định, đối với Cuba, trong điều kiện một quốc gia thuộc Thế giới thứ ba với nguồn lực kinh tế còn hạn chế và phải đối mặt với các biện pháp chiến tranh kinh tế gay gắt, những thành tựu về y tế và giáo dục là một minh chứng không thể phủ nhận.
Để hiểu rõ ngọn nguồn sức mạnh ấy, cần phải bám sát vào những luận điểm từ những cuộc trả lời phỏng vấn của Fidel Castro với nhà báo Ignacio Ramonet, từ đó mổ xẻ những nét ưu việt mang tính bản chất cũng như những thách thức nghiệt ngã mà hòn đảo tự do này đã và đang trải qua dưới một góc nhìn đa chiều, khách quan và chuyên nghiệp.
Mô hình xã hội ưu việt: Khi nhân văn không chỉ là khẩu hiệu
Sự ưu việt của một chế độ chính trị, suy cho cùng, phải được đo lường bằng chính chất lượng cuộc sống, sự phát triển toàn diện của người dân và những giá trị đạo đức mà nó kiến tạo. Đối với Cuba, trong điều kiện một quốc gia thuộc Thế giới thứ ba với nguồn lực kinh tế còn hạn chế và phải đối mặt với các biện pháp chiến tranh kinh tế gay gắt, những thành tựu về y tế và giáo dục là một minh chứng không thể phủ nhận.
Như một nhận định đầy tự hào của Fidel Castro về thành quả của nền y tế cách mạng:
"Những việc mà cách mạng đã làm vì nhân dân có thể giải trình bằng con số mà không có nhà nước nào có khả năng giải trình. Trong 46 năm qua, kể từ khi có cách mạng, đã cứu sống không dưới 450 nghìn trẻ em mà nếu như không có những tiến bộ do cách mạng đem lại đã có thể chết1."
Đó không đơn thuần là số liệu thống kê khô khan, mà là biểu hiện sinh động của một hệ thống chính sách coi quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe của con người là tối thượng. Việc hạ tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh dưới một tuổi xuống dưới 6%o, thấp hơn cả một số quốc gia phát triển như Canada, chính là lời khẳng định đanh thép cho tính ưu việt của mô hình này. Cuba không giấu diếm tham vọng tiếp tục phấn đấu hạ tỷ lệ này xuống dưới 5 và có thể dưới 4 trong tương lai không xa để vươn lên đứng đầu châu lục.
Bên cạnh đó, chỉ số tuổi thọ trung bình của người dân cũng là một kỳ tích đáng kinh ngạc. Tính từ thời điểm Cách mạng Cuba thắng lợi vào tháng 1 năm 1959, tuổi thọ của người dân đã được nâng cao thêm gần 18 năm, từ mức gần 60 tuổi tăng lên đạt chỉ số 77,5 tuổi. Điều đặc biệt nằm ở chỗ, tốc độ nâng cao tuổi thọ từ 70 lên 80 tuổi của Cuba chỉ mất một nửa thời gian so với các quốc gia thịnh vượng hàng đầu như Thụy Điển hay Nhật Bản. Sự tăng trưởng này phản ánh chất lượng của cả một hệ thống an sinh xã hội toàn diện, nơi dịch vụ y tế được phân bổ đồng đều đến từng vùng miền chứ không tập trung ở các đô thị lớn.
Để vận hành một hệ thống y tế ưu việt như vậy, Cuba đã xây dựng được một lực lượng nhân sự lớn. Đất nước này có trên 70 nghìn bác sĩ, tăng gấp 15 lần so với số lượng bác sĩ ít ỏi ở lại trong nước vào năm 1959. Không dừng lại ở đó, công tác đào tạo nhân lực y tế tương lai được thực hiện với một quy mô và phương pháp sư phạm tiến bộ vượt bậc. Vào giai đoạn này, Cuba có đến 25 nghìn sinh viên đang học ngành y. Nếu tính gộp cả những người học cử nhân y tá và các ngành liên quan đến sức khỏe, tổng số thanh niên đang được đào tạo trong lĩnh vực này lên tới khoảng 90 nghìn người.
Hệ thống các trường Y được mở rộng tại khắp các thành phố của Cuba, mỗi trường quy tụ từ 400 đến 500 sinh viên. Một điểm độc đáo mang tính nhân văn sâu sắc là sinh viên được thu xếp chỗ ở ngay trong các gia dịch nghiêm túc, có trình độ chuyên môn và văn hóa, sau khi cả gia đình và sinh viên đều đã được khảo sát kỹ lưỡng về mặt tâm lý cũng như hoàn cảnh sống. Mô hình giáo dục này kết hợp với các trang thiết bị vật chất, phương tiện nghe nhìn hiện đại và chương trình giao lưu phong phú đã tạo ra một hiệu quả kinh ngạc: một bác sĩ trong sáu năm học tập có thể tiếp thu lượng kiến thức mà nếu thông qua phương pháp truyền thống phải mất tới 20 năm mới có được.
Mục tiêu cốt lõi của Cuba là tạo nên một nguồn lực y tế tốt nhất thế giới, không chỉ để phục vụ cho nhân dân mình mà còn sẵn sàng sẻ chia cho nhân dân các nước Mỹ Latinh và thế giới. Minh chứng rõ nét là số sinh viên được nhận vào ELAM (Trường Y khoa Mỹ Latinh) đã vượt con số 10 nghìn người, trong đó có hai nghìn thanh niên Bôlivia đã tốt nghiệp trung học phổ thông được đào tạo tại đây. Theo các nguyên tắc của ALBA được ký kết giữa Cuba và Vênêxuêla, Cuba cam kết đào tạo khoảng 100 nghìn thầy thuốc Mỹ Latinh và Caribê nhằm tiến tới sự liên kết sâu rộng giữa các dân tộc.
Không chỉ có y tế, nền giáo dục và môi trường xã hội của Cuba cũng thể hiện những giá trị nhân văn vượt trội mà ngay cả nhiều nước tư bản phát triển cũng không đạt được. Cách mạng đã tạo cơ hội lớn để xóa nạn mù chữ, đảm bảo tất cả trẻ em đều được đến trường và mọi người dân đều có quyền, có cơ hội đi học để nâng cao kiến thức. Đồng thời, các tệ nạn nhức nhối như ma túy, cờ bạc, cảnh thất nghiệp đã bị triệt tận gốc khỏi đời sống xã hội. Lãnh tụ Fidel Castro từng khẳng định đầy sức thuyết phục về môi trường xã hội trong sạch của đất nước mình:
"Anh sẽ không gặp ở đây những trẻ em đi ăn mày, ăn xin, các trẻ em ngủ trên đường phố, những trẻ em đi chân đất, hoặc thiếu dinh dưỡng, hoặc trẻ em thiếu trường học1."
Từ góc độ sử học, những con số này phản ánh một nỗ lực phi thường trong việc tái cấu trúc xã hội sau thuộc địa, một cuộc cách mạng triệt để nhằm xóa bỏ khoảng cách giai cấp và bảo bọc những đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Tinh thần hào hiệp của Cuba còn vươn tầm quốc tế thông qua việc cử các thầy thuốc làm việc không lấy tiền ở trên 40 quốc gia, cứu sống hàng nghìn sinh mạng. Cuba cũng mở rộng vòng tay khám và chữa bệnh miễn phí cho hàng nghìn trẻ em nạn nhân của thảm họa hạt nhân Chécnôbưn mà không một quốc gia giàu có nào chịu tiếp nhận. Sự ra đời của Tổng đội Quốc tế "Henry Reeve" và "Chiến dịch kỳ diệu" (mổ mắt phục hồi thị lực cho hơn 24 nghìn người vùng Caribê và gần 80 nghìn người Vênêxuêla tính đến tháng 9 năm 2005) là những pho sử rực rỡ, chứng minh rằng không một nơi nào trên thế giới có thể sánh về sự hào hiệp đối với con người như ở Cuba dưới sự lãnh đạo của Fidel Castro.
Những thách thức nghiệt ngã: Sức ép từ bối cảnh bao vây, cấm vận
Tuy nhiên, từ góc nhìn khoa học lịch sử, để duy trì và bảo vệ những thành tựu ưu việt đó, Cuba đã và đang phải trải qua những thử thách tàn khốc, đặt đất nước vào một cuộc chiến sinh tồn thực sự trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, ngoại giao cho đến an ninh quốc phòng.
Hòn đảo tự do này luôn là nạn nhân của các biện pháp cấm vận kinh tế tàn bạo, các đạo luật bất công mang tính bóp nghẹt như Luật Helms-Burton hay Luật Điều chỉnh Cuba. Sự bao vây này đẩy Cuba vào thế cô lập về tài chính, gây ra những tổn thất to lớn và trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống thường nhật của người dân. Đất nước liên tục phải lo lắng về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, về vấn đề biến động giá dầu mỏ, đồng thời phải dồn lực để đấu tranh chống lại các biện pháp chiến tranh kinh tế, chiến tranh chính trị do đối phương áp đặt.
Để làm rõ bản chất nghèo nàn của các danh mục nhập khẩu xa xỉ so với nhu cầu thiết yếu của người dân, Fidel Castro lý giải việc hạn chế phát hành các ấn phẩm ngoại quốc:
"Chúng tôi không thể đổ tiền của vào việc nhập các báo chí nước ngoài đó, vì chúng tôi còn có những ưu tiên khác, như việc tiết kiệm năng lượng, vấn đề thực phẩm, y tế. Loại nhập khẩu này tuyệt đối không phải là một ưu tiên của chúng tôi...1"
Trên trường quốc tế, Cuba liên tục phải gánh chịu những đợt tuyên truyền phá hoại, những lời dối trá và xuyên tạc vu cáo Cuba "vi phạm nhân quyền" được lu loa năm này qua năm khác tại Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc ở Giơnevơ. Đối phương đã sử dụng mọi quyền lực, biện pháp gây sức ép, dọa nạt và đi đêm để cô lập Cuba. Ngay cả "châu Âu đáng kính" và các nước thuộc khối NATO cũng luôn bỏ phiếu vào hùa với Mỹ để chống lại Cuba trên diễn đàn này. Mặc dù tuyệt đại đa số các quốc gia thành viên Liên hợp quốc ủng hộ Cuba và lên án cuộc cấm vận (với hơn 180 phiếu thuận vào năm 2005), Cuba vẫn phải đối mặt với sự tráo trở của một số nước nhỏ phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ hoặc một số nước chọn cách bỏ phiếu trắng vì không muốn gây rắc rối với siêu cường này. Đây là một cuộc chiến ngoại giao gay gắt, đòi hỏi sự kiên trinh và bản lĩnh của các nhà ngoại giao Cuba khi phải công khai bỏ phiếu chống lại áp lực tài chính từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hay Ngân hàng Thế giới (WB).
Nghiêm trọng hơn cả là những tổn thất về sinh mạng và tài sản do chủ nghĩa khủng bố gây ra cho Cuba trong suốt nhiều thập kỷ. Ngay từ những năm đầu sau cách mạng thành công, đất nước đã phải đối phó với khoảng 300 tổ chức phản cách mạng nội bộ, các băng nhóm vũ trang, cuộc chiến tranh bẩn thỉu và chiến dịch Con Chồn (Mangosta) do cơ quan tình báo nước ngoài giật dây. Hàng chục kế hoạch tác chiến với hàng nghìn vụ phá hoại, hành động khủng bố chồng chất đã gây ra cho Cuba biết bao tổn thất về người, thậm chí còn nhiều hơn cả những mất mát trong chiến tranh chính quy. Đỉnh điểm của sự tàn ác là vụ làm nổ chiếc máy bay dân sự Cuba năm 1976 khiến toàn bộ hành khách tử nạn. Kẻ thủ ác Luis Posada Carriles, một tên khủng bố quốc tế khét tiếng, sau đó lại được chính quyền Mỹ dung túng, cho tị nạn và ung dung dạo chơi trên đường phố Miami vào năm 2005, giữa lúc Washington đang rêu rao về "cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế". Sự dung túng này phơi bày tiêu chuẩn kép trắng trợn của đối phương, tạo ra một môi trường an ninh rất nguy hiểm xung quanh hòn đảo tự do. Không chỉ vậy, các kế hoạch mưu sát nhằm vào các nhà lãnh đạo như Fidel Castro hay Hugo Chávez liên tục được lên lịch và lặp lại thông qua những phương thức tinh vi hiện đại, đặt hệ thống an ninh của Cuba vào tình trạng báo động thường trực.
Chiến lược tự vệ và tư duy phê phán trách nhiệm
Trước một hệ thống thách thức toàn diện và khốc liệt như vậy, cách mạng Cuba không chọn con đường rút lui hay thỏa hiệp. Ngược lại, đất nước đã kiến tạo nên một bản lĩnh tự vệ kiên cường, dựa trên nền tảng đạo đức chính trị và những điều chỉnh chiến lược sâu sắc để bảo vệ chế độ.
Phát triển tinh thần phê phán có trách nhiệm trên truyền thông
Một trong những điểm chuyển biến quan trọng trong tư duy quản lý xã hội của Cuba chính là việc nhìn nhận lại vai trò của báo chí và thông tin phê phán. Trong một thời gian dài, Cuba tồn tại xu hướng e ngại thông tin về những khiếm khuyết, sai sót vì sợ rằng những biểu hiện tiêu cực đó sẽ bị kẻ thù lợi dụng để tiến hành các chiến dịch phản cách mạng. Tuy nhiên, từ thực tế cuộc đấu tranh hoàn thiện chế độ, Fidel Castro và ban lãnh đạo Cuba đã nhận ra rằng sự im lặng hay che giấu không phải là giải pháp tốt.
Báo chí Cuba, vốn nằm trong tay những người cách mạng và các tổ chức quần chúng (Công đoàn, Thanh niên, Đảng, Nông dân, Quân đội), cần phải phát triển mạnh mẽ tinh thần phê phán. Bản thân Fidel Castro khẳng định ông ủng hộ điều này tới mức tối đa, coi đó là nhân tố cơ bản để sửa đổi các lệch lạc và hoàn thiện xã hội. Tuy nhiên, bài học cốt lõi ở đây là phải giữ vững một "thái độ phê phán có trách nhiệm". Người làm báo cách mạng phải rất khéo léo và tỉnh táo để vừa vạch rõ những yếu kém nội bộ nhằm cải tạo tốt hơn, vừa không cung cấp những thông tin nhạy cảm có thể làm lợi cho kế hoạch phá hoại của kẻ thù. Cuba kiên quyết từ chối thứ "tự do báo chí" kiểu phương Tây, cái thực chất là quyền bảo vệ sở hữu tư nhân truyền thông và trao vũ khí xuyên tạc cho những kẻ đồng minh của đế chế cấm vận.
Học thuyết "Chiến tranh toàn dân": Câu trả lời cho các mối đe dọa quân sự đơn phương
Đối diện với các lời đe dọa ghê rợn từ học thuyết "chiến tranh phòng ngừa và bất ngờ" được Tổng thống Mỹ công bố tại West Point năm 2002, Cuba đã xây dựng một tư duy quân sự độc đáo và sắc bén. Nghiên cứu kỹ lưỡng lịch sử các cuộc chiến tranh từ Việt Nam, vịnh Ba Tư cho đến Kosovo và Irắc, ban lãnh đạo Cuba rút ra kết luận mang tính bản chất: nếu đương đầu theo kiểu cổ điển giữa các sư đoàn chính quy, một quốc gia nhỏ bé chắc chắn sẽ bị hủy diệt bởi sức mạnh công nghệ vượt trội và vũ khí tinh vi của siêu cường quân sự.
Hơn nữa, từ sau cuộc khủng hoảng tháng 10 năm 1962, Cuba đã ý thức được một sự thật cay đắng rằng nếu xảy ra một cuộc xâm lược, đất nước sẽ phải chiến đấu hoàn toàn cô độc và không có ai tiếp tế một viên đạn nào. Từ đó, học thuyết "Chiến tranh toàn dân" ra đời. Điểm cốt lõi của chiến lược này là tổ chức và vũ trang cho toàn thể nhân dân. Ngoài quân đội chính quy và lực lượng dự bị, hàng triệu người dân gồm cả nam và nữ đều được biên chế vào lực lượng dân quân địa phương, sẵn sàng chiến đấu đến cùng để bảo vệ Tổ quốc. Chiến lược này biến toàn bộ hòn đảo thành một cái bẫy chí tử, nơi không có tiền tuyến hay hậu phương rõ rệt. Cuộc chiến sẽ chuyển thành cuộc đấu tranh giữa người với người ở từng góc phố, từng căn nhà, khiến cho các loại vũ khí tinh vi hạng nặng hay công nghệ quân sự hiện đại của đối phương bị vô hiệu hóa, trở về con số không. Nó dựa trên một quyết tâm tinh thần: Thà chết chứ không chịu sống dưới gót giày chiếm đóng. Để duy trì sự chiếm đóng một dân tộc kiên cường như vậy, đối phương sẽ phải cần tới hàng triệu binh lính, một lực lượng vượt quá khả năng huy động thực tế và phải trả một cái giá thương vong khủng khiếp.
Sự kiên trì các nguyên tắc đạo đức trong bạo lực cách mạng
Một nét đặc sắc làm nên tính chính nghĩa và sức mạnh tinh thần của Cuba chính là việc tuân thủ các chuẩn mực đạo đức ngay cả trong những giai đoạn căng thẳng nhất của cuộc đấu tranh sinh tồn. Dù luật pháp Cuba rất nghiêm khắc để tự vệ trước các âm mưu lật đổ, nhưng chính phủ khẳng định chưa bao giờ có một tù nhân nào chết vì bị hành hạ, không có bất kỳ một vụ tử hình nào ngoài pháp luật xảy ra trên đất nước này. Lãnh tụ Fidel Castro từng chỉ rõ tính đúng đắn và mục tiêu hướng thiện của nền chính trị cách mạng đầy tính đạo đức:
"...chúng tôi không chọn con đường làm nghề mục sư hoặc người truyền đạo, mà là nghề chính trị cách mạng trong một nền đạo đức... Một nhà nước mà không biết tự vệ, sẽ bị nghiền nát1."
In sâu trong tư duy quân sự, Cuba kiên quyết loại bỏ các phương pháp khủng bố gây thương vong cho dân thường. Ngay từ thời kỳ chiến đấu chống lại chế độ độc tài Batista, các lực lượng cách mạng đã luôn bảo vệ mạng sống cho người vô tội. Khi đối phương sử dụng phốt pho sống, loại vũ khí bị công ước quốc tế cấm, tại Fallujah hay rải napalm độc hại, Cuba lại kiên quyết từ chối sản xuất hoặc sử dụng vũ khí sinh học, hóa học và hạt nhân. Trí tuệ và tâm huyết của hàng chục nghìn nhà khoa học Cuba không bị biến thành công cụ chế tạo vi trùng đậu môi hay virus giết người, mà được giáo dục giữ gìn đạo đức để nghiên cứu sản xuất vắcxin chống lại cái chết và bệnh tật. Việc Cuba ký kết Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân và phê chuẩn Hiệp ước Tlatelolco về loại trừ vũ khí hạt nhân ở khu vực Mỹ Latinh và Caribê là những minh chứng đanh thép cho một nền chính trị hòa bình và chính nghĩa.
Dấu ấn Việt Nam và Hồ Chí Minh qua nhãn quan chiến lược của Fidel Castro
Trong hệ thống tư duy phản biện và bình luận sâu sắc từ những nội dung trả lời phỏng vấn của Fidel Castro về mối liên hệ lịch sử giữa cách mạng Cuba và cách mạng Việt Nam hiện lên như một biểu tượng của tình đoàn kết quốc tế vô sản, một bài học kinh điển về nghệ thuật quân sự nhân dân. Khi nói về sức mạnh của một dân tộc đứng dậy đấu tranh chống lại ách áp bức và xâm lược, Việt Nam luôn là cái tên đầu tiên được Fidel Castro viện dẫn với một sự khâm phục và trân trọng tuyệt đối.
Đối với Fidel, Việt Nam không chỉ là một người bạn chiến đấu, mà là một minh chứng sống động, đập tan mọi lý thuyết quân sự chính quy cổ điển của phương Tây. Khi phân tích về học thuyết "Chiến tranh toàn dân" mà Cuba áp dụng nhằm đối phó với nguy cơ xâm lược từ siêu cường, Fidel đã khẳng định một thực tế lịch sử kinh điển:
"Thực tế đã được chứng minh rằng khi một dân tộc đứng dậy đấu tranh, không ai có thể đè bẹp họ được... Có phải ông nói đến Việt Nam? Còn có cả những trường hợp khác cũng rất đáng ghi nhận...1"
Sự gợi nhắc này cho thấy vĩ nhân của cách mạng Mỹ Latinh đã nghiên cứu nghiền ngẫm, thấu suốt con đường đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam dưới sự chèo lái của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, lấy độc lập tự do làm lẽ sống của Việt Nam đã trở thành nguồn cảm hứng và cơ sở thực tiễn để Cuba đúc kết nên chiến lược quốc phòng toàn dân cho riêng mình. Fidel hiểu rằng, công nghệ tối tân của đối phương sẽ trở thành vô nghĩa khi đối đầu với một dân tộc đã giác ngộ ý thức sâu sắc và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ chủ quyền. Cho đến những năm tháng sau này, khi phân tích sâu sắc về các cuộc chiến tranh gần đây, Fidel vẫn khẳng định ban lãnh đạo Cuba luôn "nghiên cứu tất cả một cách rất chăm chú, từ cuộc chiến tranh Việt Nam" để rút ra những bài học xương máu cho công cuộc bảo vệ hòn đảo tự do Cuba.
Tình cảm sâu đậm và nhãn quan chiến lược tinh tường của Fidel Castro đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam còn được thể hiện qua những dòng bình luận rất sâu sắc, chứa chan niềm kính trọng:
"Tôi không có diễm phúc được gặp Hồ Chí Minh, người mà tôi cho rằng là một trong những nhà lãnh đạo có tư tưởng trong sáng nhất… Tôi không thể quên được bản “Di chúc” của Hồ Chí Minh, trong đó ông kêu gọi Trung Quốc và Liên Xô hãy khắc phục những tranh chấp và đoàn kết lại2."
Lời bộc bạch đầy tiếc nuối và trân trọng ấy đã khẳng định vị thế đỉnh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng Fidel Castro. Dù chưa một lần được trực tiếp hội kiến do khoảng cách địa lý và quy luật ngặt nghèo của thời gian, Fidel vẫn nhìn nhận tư tưởng của Người ở tầm vóc của một vĩ nhân có tư duy chính trị trong sáng, vượt lên trên những rạn nứt mang tính cục bộ của phong trào cộng sản quốc tế lúc bấy giờ. Việc Fidel khắc cốt ghi xương lời căn dặn trong "Di chúc" của Bác về sự đoàn kết giữa hai cường quốc xã hội chủ nghĩa không chỉ cho thấy sự quan tâm sâu sắc của ông đối với vận mệnh cách mạng Việt Nam, mà còn bộc lộ một tư tưởng lớn gặp nhau ở tinh thần quốc tế vô sản cao cả, luôn đau đáu vì sự thống nhất và lớn mạnh của các lực lượng tiến bộ trên toàn cầu.
Nhà khoa học lịch sử khi rà soát biên niên sử đối ngoại của Cuba sẽ nhận thấy một tầm nhìn vĩ đại, tư tưởng đoàn kết chiến đấu vượt không gian đã tạo ra một lực lượng vật chất to lớn. Tư duy chiến lược của Fidel không dừng lại ở sự đồng cảm giai cấp thuần túy, mà đã nâng tầm thành một lý luận thực tiễn về sự liên kết giữa các dân tộc bị áp bức. Cuba nhìn thấy ở Việt Nam một hình mẫu của lòng quả cảm, một tấm gương phản chiếu chính khát vọng độc lập của mình.
Đặc biệt, tư liệu gốc đã ghi lại một kỷ niệm lịch sử xúc động của lãnh tụ Fidel Castro gắn liền với bước ngoặt của cách mạng Việt Nam vào năm 1973. Đó là thời điểm hiệp định Paris vừa được ký kết, miền Bắc đang dốc lòng chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Sau khi tham dự Hội nghị Cấp cao các nước Không liên kết tại Argel, Fidel Castro đã lên đường sang thăm Việt Nam theo lời mời của Chính phủ ta. Hành trình lịch sử ấy được ông hồi tưởng một cách rõ nét:
"Vào tháng 9 năm 1973, từ Argel sau khi dự Hội nghị Cấp cao các nước Không liên kết, tôi chuẩn bị đi Hà Nội theo lời mời của Chính phủ Việt Nam. Lúc đó, Việt Nam chưa được giải phóng hoàn toàn... Ở Bagdad, tôi được tin xảy ra cuộc đảo chính ở Chilê chống lại Allende1."
Chuyến đi lịch sử năm 1973 của Fidel Castro sang Việt Nam, vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên và duy nhất bước qua vĩ tuyến 17 giữa lúc bom đạn còn chưa dứt, chính là biểu hiện cao đẹp nhất của mối quan hệ hữu nghị đặc biệt truyền thống. Nhãn quan chiến lược của Fidel Castro luôn đặt Việt Nam ở vị trí trung tâm của các phong trào giải phóng dân tộc thuộc Thế giới thứ ba. Sự ngưỡng mộ đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, đối với ý chí tự lực tự cường của con người Việt Nam đã thấm sâu vào tư duy chính trị và đạo đức cách mạng của Fidel, tạo nên một sợi dây liên kết vô hình nhưng bền chặt giữa hai dân tộc cách nhau nửa vòng Trái đất.
Nhìn lại toàn bộ chặng đường lịch sử với nguồn tư liệu gốc toàn diện, có thể khẳng định rằng những nét ưu việt trong mô hình xã hội của Cuba không phải là những thành quả tự nhiên có được trong nhung lụa. Đó là kết quả của một quá trình đấu tranh gian khổ, được tôi luyện qua những thử thách nghiệt ngã nhất của sự bao vây, cấm vận và các âm mưu phá hoại tàn khốc từ bên ngoài.
Bản lĩnh của Cuba dưới sự lãnh đạo của Fidel Castro nằm ở chỗ đã biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý tưởng nhân văn sâu sắc với một tư duy chiến lược phòng thủ kiên cường, dựa chắc vào sức mạnh của lòng dân và nền tảng đạo đức chính nghĩa. Di sản về tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Cuba và tư tưởng vĩ đại trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tư tưởng của người Anh hùng dân tộc Cuba José Martí luôn là ngọn hải đăng soi sáng, là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn để hòn đảo tự do tiếp tục hiên ngang đứng vững, bất chấp mọi giông bão và thách thức của thời đại./.
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr695
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr695
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr701
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr694
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr725
2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr759;761
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr715