Tại Hội nghị mang tầm chiến lược này, các đại biểu cơ quan quản lý nhà nước, các chuyên gia kinh tế hàng đầu, các nhà khoa học, nhà thiết kế, đại diện các tổ chức quốc tế cùng đông đảo cộng đồng doanh nghiệp, hợp tác xã và các nghệ nhân tiêu biểu sẽ cùng nhau tập trung thảo luận, mổ xẻ sâu sắc nhiều nội dung thiết thực nhằm đánh giá toàn diện tiềm năng, nhận diện rõ những điểm nghẽn, khó khăn và từ đó hoạch định một hệ thống giải pháp toàn diện để phát triển bền vững kinh tế làng nghề, khẳng định mạnh mẽ vị thế trụ cột của khu vực kinh tế nông thôn trong công cuộc phát triển đất nước bước vào giai đoạn mới, gắn liền với kỷ nguyên vươn mình, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh.
Việt Nam từ lâu đã được vinh danh là quốc gia có bề dày lịch sử phát triển lâu đời, sở hữu một nền văn hóa vô cùng đa dạng, phong phú và giàu bản sắc. Trải qua hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, các nghề thủ công truyền thống đã được hình thành, bền bỉ gìn giữ và không ngừng phát triển, vươn lên trở thành một bộ phận cốt lõi, không thể tách rời trong đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của cộng đồng dân cư khu vực nông thôn. Nhìn từ hệ thống các sản phẩm gốm sứ tinh xảo, mây tre đan uyển chuyển, thêu ren kỳ công, dệt lụa óng ả, sơn mài rực rỡ cho đến các sản phẩm gỗ mỹ nghệ, chạm khắc tinh tế và vô số sản phẩm thủ công truyền thống đặc sắc khác, mỗi một tác phẩm làm ra không chỉ đơn thuần mang lại giá trị sử dụng thiết thực trong đời sống hằng ngày mà còn chứa đựng cả một bầu trời tri thức bản địa, kỹ năng nghề điêu luyện, óc sáng tạo phong phú cùng những câu chuyện văn hóa độc đáo của từng vùng miền trên cả nước.
Phát triển ngành nghề nông thôn: Khơi nguồn mạch sống di sản, chuyển đổi số và tầm nhìn chiến lược phát triển bền vững
Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng diễn ra sâu rộng, xu hướng tiêu dùng xanh, phát triển bền vững, đề cao tính bản địa và các giá trị văn hóa truyền thống đang mở ra những vận hội và cơ hội vô cùng mới mẻ cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam vươn xa. Tuy nhiên, để có thể chuyển hóa trọn vẹn những tiềm năng to lớn đó thành giá trị kinh tế thực tiễn, tạo lập thương hiệu uy tín và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, chúng ta dứt khoát phải tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy phát triển, đặc biệt là trong việc huy động tối đa các nguồn lực đầu tư xã hội, đẩy mạnh kết nối thị trường, thúc đẩy chuyển đổi số và tổ chức lại toàn bộ hệ thống sản xuất.
Tiềm năng, lợi thế và bức tranh toàn cảnh của hệ thống làng nghề Việt Nam
Trước hết, có thể khẳng định một cách mạnh mẽ rằng Việt Nam đang nắm giữ những lợi thế so sánh vô cùng to lớn trong công cuộc phát triển ngành nghề nông thôn, đặc biệt là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang hàm lượng văn hóa cao. Theo các số liệu thống kê chính thức, tính đến nay, cả nước đã công nhận được 263 nghề truyền thống, 1.308 làng nghề và 667 làng truyền thống, cùng với hàng nghìn làng có nghề đang ngày đêm duy trì và phát triển. Đây thực sự là một hệ thống nghề và làng nghề vô cùng phong phú, phân bố rộng khắp từ Bắc chí Nam, tạo nên nguồn cung sản phẩm đa dạng, mang bản sắc riêng biệt của từng địa phương, đồng thời là nền tảng quan trọng để thu hút các nguồn đầu tư phát triển sản xuất, thúc đẩy thiết kế sáng tạo, xây dựng thương hiệu mạnh và phát triển các mô hình du lịch trải nghiệm làng nghề.
Lợi thế đầu tiên, cũng là lợi thế mang tính khác biệt sâu sắc nhất, chính là giá trị văn hóa truyền thống, kỹ năng nghề tinh xảo và tri thức bản địa được lưu truyền qua nhiều thế hệ nghệ nhân. Mỗi một làng nghề tồn tại trên đất nước ta đều là một không gian văn hóa đặc trưng, nơi lưu giữ những bí quyết nghề nghiệp độc quyền, phương thức sản xuất truyền đời, phong tục tập quán độc đáo và những giá trị thẩm mỹ được bồi đắp qua năm tháng. Chúng ta tự hào sở hữu những làng nghề gốm có lịch sử tồn tại hàng trăm năm; những làng nghề dệt lụa, thêu ren, đan lát, chế tác gỗ và các nghề thủ công khác đã sớm tạo dựng được danh tiếng vững chắc trên thương trường quốc gia và quốc tế. Đây là nguồn tài sản vô giá, hoàn toàn không dễ dàng sao chép và chính là lợi thế cạnh tranh cốt lõi của sản phẩm thủ công Việt Nam.
Lợi thế thứ hai nằm ở sự đa dạng và phong phú vượt trội về nhóm sản phẩm cũng như nguồn nguyên liệu tự nhiên. Hệ sinh thái các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam có khả năng đáp ứng linh hoạt và hoàn hảo cho nhiều phân khúc thị trường khác nhau, từ các sản phẩm gia dụng thiết yếu, trang trí nội thất sang trọng, quà tặng, đồ lưu niệm cho đến những tác phẩm nghệ thuật có giá trị kinh tế và thẩm mỹ đỉnh cao. Đối với nhóm gốm sứ, chúng ta nắm giữ lợi thế tuyệt vời về kỹ thuật tạo hình tinh xảo, nghệ thuật trang trí độc đáo, dòng men gốm đặc sắc cùng khả năng kết hợp hài hòa giữa phong cách truyền thống với tư duy thiết kế hiện đại. Đối với nhóm thêu, dệt, sản phẩm không chỉ thể hiện sự khéo léo, tỉ mỉ đến từng chi tiết mà còn chuyên chở trọn vẹn các họa tiết, hoa văn mang đậm bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đối với nhóm mây tre đan và các sản phẩm khai thác từ vật liệu tự nhiên, đây là nhóm sản phẩm có tiềm năng chiến lược lớn trong xu hướng tiêu dùng xanh, thân thiện tuyệt đối với môi trường và đóng vai trò thay thế hiệu quả các sản phẩm nhựa dùng một lần trong đời sống sinh hoạt. Đối với nhóm gỗ nội thất và gỗ mỹ thuật, Việt Nam sở hữu lực lượng lao động lành nghề, năng lực gia công và chế tác đa dạng, đáp ứng xuất sắc nhu cầu trang trí không gian sống cao cấp cho các khách sạn, khu nghỉ dưỡng lớn và thị trường xuất khẩu khó tính. Bên cạnh đó còn có sự góp mặt của vô số ngành nghề khác như sơn mài, chạm khắc tinh xảo, kim hoàn, chế tác đá, các sản phẩm mỹ nghệ từ nguyên liệu tự nhiên và đặc sản của từng địa phương.
Lợi thế thứ ba là đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi và lực lượng lao động nông thôn giàu kỹ năng nghề. Tính đến năm 2025, cả nước ghi nhận 32 Nghệ nhân Nhân dân, 252 Nghệ nhân Ưu tú, 688 nghệ nhân cấp tỉnh và 1.569 thợ giỏi được thống kê và tôn vinh. Đây là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quyết định trong việc bảo tồn kỹ năng nghề, phát triển sản phẩm, đào tạo nguồn nhân lực kế cận và truyền cảm hứng sáng tạo cho thế hệ trẻ. Trong nhận thức phát triển, nghệ nhân chính là những di sản sống, là những người giữ lửa nhiệt huyết cho các làng nghề. Nếu như máy móc, thiết bị và công nghệ hiện đại hoàn toàn có thể mua sắm và đầu tư bằng nguồn lực tài chính thì kỹ năng tinh xảo, bí quyết nghề nghiệp gia truyền và kinh nghiệm sáng tạo của nghệ nhân lại là những tài sản đặc biệt quý hiếm, đòi hỏi phải được bảo vệ, trân trọng và phát huy tối đa.
Lợi thế thứ tư chính là khả năng tích hợp linh hoạt giữa sản xuất thủ công mỹ nghệ với phát triển du lịch, dịch vụ và công nghiệp văn hóa. Nhu cầu của người tiêu dùng hiện đại ngày nay đã vượt qua giới hạn của việc mua một món hàng thông thường; họ muốn tìm hiểu tường tận nguồn gốc, lắng nghe những câu chuyện văn hóa, tiếp xúc với con người và trực tiếp trải nghiệm quá trình tạo ra sản phẩm đó. Một chiếc bình gốm sẽ mang lại giá trị cảm xúc hoàn toàn khác biệt khi người mua được đặt chân trực tiếp đến làng nghề, tận mắt chứng kiến nghệ nhân tạo hình và tự tay tham gia vào một công đoạn sản xuất. Tương tự, một sản phẩm thêu, dệt hay mây tre đan sẽ trở nên cuốn hút hơn rất nhiều khi gắn liền với những câu chuyện về truyền thống, phong tục và đời sống cộng đồng. Đây chính là cơ sở thực tiễn vững chắc để phát triển các mô hình kinh tế tích hợp đa giá trị giữa sản xuất, thương mại, du lịch trải nghiệm và dịch vụ văn hóa tại các làng nghề.
Bên cạnh những thuận lợi và tiềm năng to lớn, thực tiễn phát triển kinh tế làng nghề hiện nay cũng bộc lộ những điểm mạnh, điểm yếu nội tại, đồng thời đan xen nhiều cơ hội rộng mở cùng những thách thức gay gắt từ môi trường bên ngoài.
Về mặt điểm mạnh, hệ thống làng nghề sở hữu nền tảng văn hóa lịch sử lâu đời với hàng trăm nghề truyền thống đã được định danh, cùng với đội ngũ nghệ nhân tâm huyết, thợ giỏi giàu kinh nghiệm tay nghề cao và hệ sinh thái sản phẩm vô cùng đa dạng, phong phú. Những thế mạnh này tạo ra sức hút nội sinh mạnh mẽ, giúp sản phẩm thủ công Việt Nam mang bản sắc độc bản không dễ sao chép. Tuy nhiên, kinh tế làng nghề cũng tồn tại nhiều điểm yếu cố hữu như quy mô sản xuất chủ yếu mang tính hộ gia đình nhỏ lẻ, phân tán, năng lực tích tụ vốn và ứng dụng công nghệ hiện đại còn hạn chế. Sự liên kết chuỗi giá trị giữa các khâu từ nguyên liệu, thiết kế, sản xuất đến tiêu thụ chưa chặt chẽ; năng lực thiết kế mẫu mã đôi khi chưa theo kịp thị hiếu quốc tế nhanh chóng; trong khi hạ tầng kỹ thuật và công tác xử lý môi trường tại nhiều địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dài hạn.
Dù vậy, những cơ hội từ bối cảnh mới là vô cùng to lớn. Xu hướng tiêu dùng xanh, chuộng các sản phẩm thân thiện với môi trường, đề cao tính bản địa và giá trị văn hóa trên phạm vi toàn cầu đang mở ra không gian thị trường xuất khẩu rộng lớn. Sự bùng nổ của công nghiệp văn hóa, du lịch trải nghiệm, cùng với sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tạo ra động lực nội sinh quan trọng. Đặc biệt, kỷ nguyên số và thương mại điện tử xuyên biên giới cung cấp công cụ đắc lực để các làng nghề vượt qua giới hạn không gian, quảng bá trực tiếp hình ảnh và câu chuyện di sản đến khách hàng toàn cầu. Song hành với cơ hội là những thách thức không nhỏ bao gồm sức ép cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa sản xuất công nghiệp hàng loạt, nguy cơ mai một tri thức và bí quyết nghề truyền thống do sự dịch chuyển lao động trẻ về đô thị, các rào cản kỹ thuật tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường quốc tế, cũng như áp lực gia tăng về ô nhiễm môi trường sinh thái nếu không có quy hoạch bài bản.
Gắn kết phát triển làng nghề với kinh tế bao trùm, tăng trưởng xanh và trách nhiệm cộng đồng trong bối cảnh mới
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu và quốc gia đang dịch chuyển mạnh mẽ hướng tới các mô hình tăng trưởng bền vững, kinh tế làng nghề không thể đứng ngoài dòng chảy của xu thế tất yếu này. Phát triển làng nghề không chỉ thuần túy là gia tăng sản lượng hay doanh thu thương mại, mà phải gắn kết hữu cơ với mô hình kinh tế bao trùm, đảm bảo mọi thành phần trong cộng đồng dân cư nông thôn đều được tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển và không ai bị bỏ lại phía sau. Kinh tế bao trùm tại các làng nghề đặt trọng tâm vào việc tạo sinh kế ổn định, nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng sống cho các nhóm yếu thế, lao động nữ, người lớn tuổi và lao động thời vụ ngay tại địa phương, qua đó giải quyết tận gốc bài toán di cư lao động tự phát về các đô thị lớn và giảm thiểu áp lực xã hội.
Song hành cùng kinh tế bao trùm là chiến lược tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, yêu cầu các làng nghề phải lập tức chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên, sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường và giảm thiểu tối đa phát thải carbon. Việc ứng dụng năng lượng sạch, công nghệ xử lý chất thải đạt chuẩn, tái chế phế phụ phẩm trong chế biến mây tre đan, gốm sứ hay gỗ mỹ nghệ không chỉ giúp giải quyết triệt để bài toán ô nhiễm môi trường làng nghề vốn nan giải lâu nay mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh tuyệt đối khi tiếp cận các thị trường xuất khẩu khó tính bậc nhất thế giới.
Đặc biệt, trách nhiệm cộng đồng phải được xem là nền tảng văn hóa và đạo đức kinh doanh xuyên suốt trong mọi hoạt động của các chủ thể làng nghề. Trách nhiệm đó thể hiện rõ nét ở ý thức bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, gìn giữ nguồn tài nguyên bản địa, bảo vệ sức khỏe cộng đồng dân cư xung quanh, đồng thời thực hiện nghiêm túc việc truyền dạy bí quyết nghề nghiệp cho thế hệ trẻ một cách có trách nhiệm. Khi các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp và nghệ nhân nhận thức sâu sắc về trách nhiệm xã hội của mình, họ sẽ xây dựng được uy tín vững chắc, tạo dựng niềm tin tuyệt đối với người tiêu dùng và biến văn hóa kinh doanh có trách nhiệm thành sức mạnh mềm để nâng tầm thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế.
Thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới hành lang pháp lý và tăng cường liên kết chuỗi giá trị đa chủ thể
Để hiện thực hóa khát vọng vươn mình, đưa kinh tế làng nghề bứt phá mạnh mẽ trong kỷ nguyên số, việc tháo gỡ các nút thắt về thể chế và công nghệ là điều kiện tiên quyết. Nhà nước cần tiếp tục rà soát, đổi mới và hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý, tạo khung khổ thông thoáng, minh bạch và thuận lợi nhất để thu hút các nguồn lực đầu tư xã hội vào khu vực nông thôn. Điển hình là việc đưa vào thực thi hiệu quả các cơ chế, chính sách mới, tiêu biểu như việc hoàn thiện dự thảo Nghị định về phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề bền vững thay thế Nghị định số 52/2018/NĐ-CP do Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Chính phủ. Hành lang pháp lý mới này phải tạo ra động lực thực sự thông qua các chính sách ưu đãi đặc thù về đất đai, tín dụng xanh, hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ và bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm thủ công mang chỉ dẫn địa lý.
Đồng thời, chuyển đổi số toàn diện phải được xác định là chìa khóa chiến lược để thay đổi phương thức quản lý, sản xuất và kinh doanh tại các làng nghề. Công cuộc chuyển đổi số cần được triển khai đồng bộ từ việc số hóa dữ liệu về hệ thống di sản, tri thức nghệ nhân, xây dựng hồ sơ số, mã hóa QR để minh bạch nguồn gốc xuất xứ sản phẩm cho đến việc ứng dụng các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới và các kênh tiếp thị số đa ngôn ngữ. Nhờ có không gian số, các làng nghề truyền thống dẫu nằm ở những vùng quê sâu xa cũng có thể kết nối trực tiếp với người mua hàng toàn cầu, kể những câu chuyện văn hóa đầy cảm xúc về sản phẩm và tối ưu hóa chuỗi phân phối mà không bị giới hạn bởi không gian hay thời gian.
Để tối ưu hóa hiệu quả của các nguồn lực, việc tăng cường liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà thiết kế sáng tạo, cộng đồng và các chủ thể liên quan đóng vai trò quyết định, tạo nên sức mạnh tổng hợp của chuỗi giá trị làng nghề. Mô hình liên kết "năm nhà" này sẽ khắc phục hoàn toàn tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ; trong đó Nhà nước kiến tạo thể chế và chính sách hỗ trợ, các nhà khoa học chuyển giao công nghệ sạch và giải pháp kỹ thuật, nhà doanh nghiệp dẫn dắt thị trường và bao tiêu sản phẩm, nhà thiết kế thổi hồn hiện đại vào mẫu mã, còn cộng đồng nghệ nhân và người làm nghề là chủ thể bảo lưu linh hồn di sản. Thông qua việc hình thành các mối quan hệ hợp tác chiến lược lâu dài từ khâu nghiên cứu thị trường, thiết kế mẫu mã, đầu tư sản xuất, xây dựng thương hiệu đến phân phối toàn cầu, các sản phẩm làng nghề Việt Nam sẽ không ngừng gia tăng giá trị, đáp ứng hoàn hảo các tiêu chuẩn khắt khe nhất của thị trường quốc tế, qua đó khẳng định vị thế vững chắc, trường tồn của văn hóa thủ công Việt Nam trong tiến trình hội nhập và phát triển bền vững./.