Công trình khoa học này nhận được sự quan tâm từ giới chuyên môn nhờ cách tiếp cận trực diện vào bối cảnh nền kinh tế sáng tạo đang dịch chuyển mạnh mẽ. Để làm rõ những giá trị tri thức và hệ thống giải pháp được đề xuất, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với NSƯT Hương Giang.
PV: Thưa NSƯT Hương Giang, những nội dung cốt lõi và cấu trúc tổng thể của cuốn sách chuyên khảo này được định hình như thế nào để đóng góp vào mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay?
NSƯT Hương Giang: Cuốn sách chuyên khảo này dày hơn 300 trang và được cấu trúc mạch lạc thành 4 phần chính khép kín cùng phần Phụ lục tích hợp 220 chỉ mục từ chuyên ngành: Phần 1, Kiến tạo thể chế và chiến lược phát triển: Tập trung phân tích các căn cứ chính trị, pháp lý và sự vận hành của âm nhạc trong hệ thống sở hữu trí tuệ nhằm chuyển hóa di sản nghệ thuật thành tài sản kinh tế bền vững; Phần 2, Chuyển đổi số và cuộc cách mạng công nghệ: Đi sâu giải phẫu tác động diện rộng của các hình thức phân phối trực tuyến, Trí tuệ nhân tạo, Dữ liệu lớn và công nghệ chuỗi khối nhằm mở ra những mô hình kinh doanh âm nhạc dựa trên dữ liệu thực chứng; Phần 3, Chủ thể sáng tạo và thị trường âm nhạc hiện đại: Phác họa chân dung các nhà sản xuất âm nhạc, thế hệ nghệ sĩ độc lập và khát vọng đưa bản sắc Việt ra toàn cầu; Phần 4, Hạ tầng sáng tạo và kinh tế lễ hội: Đề xuất các giải pháp thực tiễn về phát triển không gian sáng tạo, kinh tế đêm và các lễ hội âm nhạc tầm vóc gắn với quảng bá du lịch di sản bản địa; Phần Phụ lục: Tích hợp 220 chỉ mục từ chuyên ngành đóng vai trò như một cuốn từ điển cốt lõi, giúp tra cứu nhanh các thuật ngữ then chốt về âm nhạc trong kỷ nguyên số.
Điểm nhấn của tác phẩm là sự chuyển dịch từ tư duy nghiên cứu nghệ thuật thuần túy sang nhận thức quản trị sáng tạo và kinh tế nghệ thuật có trách nhiệm. Cuốn sách bám sát các văn kiện như Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam; và Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Thay vì bảo tồn di sản theo lối tĩnh, sách đề xuất tái cấu trúc di sản truyền thống thành các tài sản số để tích hợp sâu vào nền kinh tế thị trường.
PV: Đâu là những điểm mới nổi bật về mặt khoa học được chị đúc kết trong cuốn sách này, thưa chị?
NSƯT Hương Giang: Công trình chuyên khảo này chọn cách tiếp cận liên ngành, đặt âm nhạc trong mối quan hệ hữu cơ với kinh tế vĩ mô và hạ tầng luật pháp. Tôi định vị âm nhạc là một khu vực tạo ra lợi nhuận, việc làm và giá trị thặng dư lớn cho đất nước. Bản quyền được tiếp cận như một "hệ điều hành" của nền kinh tế sáng tạo, giúp chuyển hóa các biểu tượng, âm thanh vô hình thành hàng hóa đặc biệt có giá trị kinh tế cao. Tính mới về mặt khoa học của tác phẩm thể hiện tập trung qua các điểm cốt lõi sau:
Chuỗi giá trị khép kín: Phân tích âm nhạc từ khâu sáng tác, sản xuất công nghệ, phân phối đa nền tảng đến tiêu dùng trải nghiệm, giúp tác phẩm mang cả bản sắc dân tộc lẫn hơi thở thời đại.
Khai thác tài nguyên trí tuệ: Tiết giảm tài nguyên hữu hình, tập trung vốn hóa tài nguyên trí tuệ vô tận của dân tộc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Quản trị sáng tạo: Chuyển tư duy bảo tồn tĩnh sang phát triển động, tháo gỡ nút thắt về vốn và hành lang pháp lý cho doanh nghiệp văn hóa.
Bảo hộ bản quyền số: Luận giải Luật Sở hữu trí tuệ số 131/2025/QH15, đề xuất ứng dụng Blockchain và Big Data để tự động hóa việc chi trả tác quyền theo thời gian thực (Real-time Royalty).
Thái độ chủ động của nghệ sĩ: Thúc đẩy đội ngũ sáng tác thượng tôn pháp luật chủ động, bài trừ đạo nhái và tự tin làm giàu chính đáng từ chất xám.
AI là cộng sự chiến lược: Khẳng định sản phẩm do AI tự tạo không được bảo hộ nếu thiếu sự sáng tạo của con người, định hướng nghệ sĩ làm chủ AI để tối ưu hiệu suất nhưng giữ vững chiều sâu cảm xúc.
Hệ sinh thái mở: Kết nối nghệ sĩ, nhà phát hành và đơn vị công nghệ thông qua "Trục liên thông dữ liệu âm nhạc quốc gia" để phân chia lợi ích công bằng.
Tư duy "Glocal" (Toàn cầu hóa bản sắc): Dùng tiêu chuẩn công nghệ toàn cầu làm phương tiện truyền dẫn để đưa chất liệu dân gian độc bản của 54 dân tộc ra quốc tế bài bản.
Kinh tế âm nhạc đa ngành: Liên kết âm nhạc với du lịch di sản, lễ hội và kinh tế đêm qua mô hình đối tác công tư (PPP) theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW để kích cầu tiêu dùng.
PV: Công nghiệp văn hóa đang là một lĩnh vực rất mới mẻ. Chị nhìn nhận thế nào về tác động từ sự bùng nổ của khoa học công nghệ, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo đối với bối cảnh này, đặc biệt là vị thế phát triển của Việt Nam?
NSƯT Hương Giang: Công nghiệp văn hóa quả thực là một phạm trù còn rất mới mẻ tại Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, nhân loại đang chứng kiến một cuộc chuyển dịch mang tính bước ngoặt sang kỷ nguyên dữ liệu. Sự bùng nổ mạnh mẽ của khoa học công nghệ, các nền tảng số và đặc biệt là trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang đặt ra những bài toán, những thách thức và cả những tiêu chuẩn hoàn toàn mới cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Công nghệ số ngày nay không đơn thuần là công cụ phân phối, mà đã trở thành môi trường sáng tạo mới, làm thay đổi căn bản cấu trúc, phương thức vận hành và hành vi tiêu dùng của toàn xã hội.
Đối với Việt Nam, một đất nước có bề dày lịch sử hàng nghìn năm, sở hữu kho tàng di sản phong phú của 54 dân tộc anh em, chúng ta đang nắm giữ một nền tảng tài nguyên dồi dào để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, trong không gian mạng không biên giới hiện nay, văn hóa Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị lép vế nếu không có một giải pháp quản trị khoa học.
Chính vì vậy, vai trò của âm nhạc, với tư cách là nhịp đập và chất xúc tác mạnh mẽ trong hệ sinh thái này, cần phải được định vị lại một cách đúng mức. Âm nhạc với khả năng số hóa triệt để và kết nối xuyên quốc gia được xác lập là ngành chủ lực, góp phần dẫn dắt sức mạnh mềm dân tộc. Cuốn sách của tôi ra đời nhằm mang lại những góc nhìn bổ trợ trên tất cả các lĩnh vực của hệ sinh thái âm nhạc hiện đại, từ thể chế, công nghệ, chủ thể sáng tạo cho đến hạ tầng kinh tế đêm, tạo bệ phóng để góp phần chuyển hóa nguồn vốn văn hóa của người Việt thành tài sản kinh tế có giá trị trên bản đồ tri thức thế giới.
PV: Dưới lăng kính của cuốn sách, những chuyển động thời sự của nhạc Việt, đặc biệt là các cột mốc từ "Cơn mưa ngang qua" cho đến dự án toàn cầu "Come My Way" của ca sĩ Sơn Tùng M-TP, được giải mã như thế nào?
NSƯT Hương Giang: Thị trường nhạc trẻ đại chúng phản chiếu rất rõ những luận điểm về vốn hóa tài sản vô hình và dòng chảy nhạc số. Từ cột mốc sơ khởi của bản hit "Cơn mưa ngang qua", âm nhạc Việt đã bắt đầu làm quen với khái niệm phân phối trực tuyến. Đến nay, sự bứt phá của sản phẩm mới nhất là MV "Come My Way" hợp tác cùng rapper quốc tế Tyga chính là minh chứng sống động cho sức hút dẫn đầu và tư duy "Glocal" kết hợp yếu tố truyền thống vào dòng chảy pop culture hiện đại.
Xét về khía cạnh định lượng thị trường, các thành tích ấn tượng trên các bảng xếp hạng âm nhạc quốc tế và việc đứng đầu danh sách thịnh hành cho thấy khi một nghệ sĩ biết cách vận hành chuyên nghiệp, âm nhạc sẽ trở thành cỗ máy kích hoạt dòng chảy kinh tế giải trí mạnh mẽ.
Đặc biệt, dưới góc độ công nghiệp văn hóa, "Come My Way" đã thể hiện một vai trò tích cực khi trở thành một "lời mời" đầy nghệ thuật gửi đến bạn bè thế giới về một Việt Nam tươi đẹp, giàu bản sắc. Việc Sơn Tùng M-TP lồng ghép một cách tinh tế các đại cảnh hùng vĩ của Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình), hay đưa vào các chất liệu dân gian như mặt nạ múa trò Xuân Phả (Thanh Hóa), họa tiết rồng thời Lý và biểu tượng chim Lạc không chỉ mang lại giá trị thẩm mỹ, mà còn định vị sản phẩm âm nhạc như một đại sứ văn hóa và du lịch xuất sắc. Sự kết hợp hoàn hảo giữa âm nhạc hiện đại thế giới với cảnh sắc, di sản và trang phục truyền thống Việt Nam đã tạo nên hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, khơi dậy niềm tự hào dân tộc trong lòng khán giả trẻ, đồng thời kích cầu mạnh mẽ xu hướng "du lịch âm nhạc" của công chúng quốc tế đến với đất nước chúng ta.
Tuy nhiên, sách của tôi luôn đặt ra những góc nhìn phản biện đa chiều trước thực trạng phát triển. Những tranh luận về ranh giới sáng tạo khi lồng ghép biểu tượng văn hóa thiêng liêng như chim Lạc, hay bài học về thiết kế bối cảnh, cho thấy tầm quan trọng của việc hoàn thiện hành lang pháp lý và ý thức thượng tôn bản quyền một cách khắt khe. Nghệ sĩ trẻ khi bước ra toàn cầu phải có bản lĩnh quản trị tư duy số, dẫn dắt thuật toán thay vì để thuật toán "vụn vặt hóa" tác phẩm vì mục đích thương mại ngắn hạn bề nổi.
PV: Thuật ngữ "hệ sinh thái tri thức âm nhạc trong kỷ nguyên số" được chị đề cập như một từ khóa cốt lõi. Chị có thể làm rõ hệ sinh thái này gồm những thành tố gì, và cuốn sách định hướng hoàn thiện nó theo hướng nào để chúng ta hội nhập hiệu quả, đồng thời gia tăng bản sắc dân tộc?
NSƯT Hương Giang: Trong cuốn sách, tôi định nghĩa hệ sinh thái tri thức âm nhạc hiện đại là một cấu trúc cộng sinh toàn diện, bao gồm bốn thành tố cốt lõi:
Tri thức di sản bản địa: Hệ thống điệu thức ngũ cung, kỹ thuật diễn tấu độc bản bao gồm nhấn, nhá, rung, mổ của nhạc cụ truyền thống và kho tàng văn học dân gian.
Tri thức kỹ trị và công nghệ: Năng lực làm chủ các công cụ số, từ kỹ thuật phòng thu, thuật toán phân phối trực tuyến đến dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ chuỗi khối.
Tri thức quản trị và kinh tế sáng tạo: Tư duy về kinh doanh âm nhạc, quản lý nghệ thuật và luật sở hữu trí tuệ xuyên biên giới.
Dòng chảy đối thoại thế hệ: Sự tương tác liên tục giữa lý luận hàn lâm của chuyên gia và tư duy nhạy bén của thế hệ trẻ.
Để hội nhập hiệu quả, cuốn sách định hướng hoàn thiện hệ sinh thái này theo ba trục nội dung để gia tăng bản sắc:
Chuyển từ bảo tồn tĩnh sang khai thác động thông qua số hóa bản sắc: Cuốn sách chỉ rõ chúng ta không thể giữ gìn bản sắc bằng cách đóng khung di sản trong bảo tàng. Âm nhạc truyền thống phải được số hóa chuẩn mực, chuyển cấu trúc sang các nguyên liệu số để tích hợp vào các thể loại đương đại như nhạc đại chúng, nhạc điện tử. Chúng ta dùng kỹ thuật phương Tây làm khung nhưng giữ linh hồn di sản của 54 dân tộc anh em làm lõi, biến bản sắc thành lợi thế cạnh tranh độc bản trên không gian mạng quốc tế.
Xây dựng màng lọc văn hóa bằng công nghệ nội địa: Các cơ quan chức năng và đơn vị công nghệ cần liên kết kiến tạo "Trục liên thông dữ liệu âm nhạc quốc gia" dựa trên công nghệ chuỗi khối và xây dựng các thuật toán gợi ý thuần Việt. Đây là công cụ chủ động để hỗ trợ quảng bá âm nhạc chính thống, định danh bản sắc Việt và giảm thiểu tình trạng xâm lăng văn hóa hay chiếm dụng tài nguyên di sản trái phép từ các thuật toán nước ngoài.
Nâng cao tính chuyên nghiệp của chủ thể sáng tạo qua đào tạo liên ngành: Nghệ sĩ và nhà sản xuất âm nhạc hiện đại không chỉ làm nhạc bằng bản năng mà phải được trang bị tri thức quản trị. Cuốn sách định hướng việc dán nhãn nội dung có sự tham gia của trí tuệ nhân tạo và thực thi nghiêm Luật Sở hữu trí tuệ số 131/2025/QH15 nhằm bảo vệ biên cương văn hóa. Khi chủ thể sáng tạo am hiểu luật pháp và công nghệ, họ sẽ tự tin mượn các nền tảng toàn cầu làm bệ phóng đưa giá trị Việt ra thế giới một cách bài bản và chuyên nghiệp.
PV: Sự đóng góp của tác phẩm này đối với vấn đề thời sự nóng hổi hiện nay, đó là phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, được thể hiện cụ thể ở những giải pháp quy hoạch nào, thưa chị?
NSƯT Hương Giang: Cuốn sách vạch ra hệ giải pháp hành động cụ thể cho từng nhóm chủ thể nhằm tháo gỡ đồng bộ các nút thắt trong chuỗi giá trị, tạo bệ phóng vững chắc cho ngành công nghiệp âm nhạc hiện đại. Trước hết, về phía các cơ quan chức năng, việc hoàn thiện khung khổ pháp lý cần được tập trung rà soát, bổ sung các quy định lập quy bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trọng tâm của công tác này là xây dựng hành lang bảo vệ "dấu ấn số" và quyền sở hữu trí tuệ trước các hình thức sao chép xuyên biên giới. Song song với đó, việc hiện thực hóa Cổng âm nhạc số quốc gia và "Trục liên thông dữ liệu âm nhạc quốc gia" tích hợp công nghệ chuỗi khối cùng dữ liệu lớn sẽ giúp định danh tác phẩm, áp dụng hợp đồng thông minh để tự động hóa việc rà quét và chi trả tác quyền theo thời gian thực một cách minh bạch.
Đồng thời, các cơ quan quản lý cần chủ động phát triển thuật toán nội địa để tối ưu hóa hiển thị, gợi ý và quảng bá các dòng nhạc chính thống, âm nhạc truyền thống bản địa trên không gian mạng nhằm bảo vệ biên cương văn hóa số. Ngoài ra, việc bám sát Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/05/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân sẽ giúp đẩy mạnh mô hình đối tác công tư, khơi thông nguồn vốn xã hội hóa đầu tư vào hạ tầng biểu diễn hiện đại gắn với Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 27/07/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế đêm nhằm kích cầu tiêu dùng và du lịch.
Đối với đội ngũ nghệ sĩ biểu diễn và nhà sáng tác, cuốn sách định hướng một sự chuyển dịch mạnh mẽ trong nhận thức, bắt đầu từ việc chuyển từ phòng ngự thụ động sang chủ động thượng tôn bản quyền, tự giác tuân thủ Luật Sở hữu trí tuệ số 131/2025/QH15, bài trừ đạo nhái và nâng cao trách nhiệm đạo đức với từng sản phẩm số. Nghệ sĩ hiện đại cần nâng cấp tư duy quản trị số, vận hành như những nhà khởi nghiệp văn hóa thực thụ để chủ động dán nhãn nội dung trí tuệ nhân tạo, làm chủ công nghệ và dẫn dắt thuật toán thay vì chạy theo thị hiếu ngắn hạn làm vụn vặt hóa tác phẩm. Quá trình sáng tạo ra công chúng phải dựa trên gốc rễ bản sắc bằng cách mượn tiêu chuẩn kỹ thuật phòng thu cùng các nền tảng phân phối toàn cầu làm phương tiện truyền dẫn, nhưng bắt buộc phải giữ linh hồn di sản dân tộc của 54 dân tộc anh em làm lõi để tự tin đưa giá trị Việt ra thế giới một cách sòng phẳng, kiêu hãnh.
Ở mắt xích cuối cùng, về phía các cơ sở đào tạo, giải pháp gốc rễ nằm ở việc đổi mới giáo dục nghệ thuật toàn diện, gắn kết chặt chẽ lý luận viện hàn lâm với thực tế sinh động của thị trường giải trí trực tuyến nhằm thu hẹp khoảng cách thực tế. Các nhà trường cần khẩn trương xây dựng và đưa vào giảng dạy chuyên ngành Kinh doanh âm nhạc nhằm đào tạo nguồn nhân lực liên ngành chất lượng cao, giúp sinh viên làm chủ trọn vẹn chuỗi giá trị từ sáng tác, sản xuất công nghệ, truyền thông đa nền tảng đến luật tác quyền xuyên biên giới. Đây chính là nền tảng bền vững để cung ứng cho xã hội một thế hệ công dân số nghệ thuật có đủ bản lĩnh nghề nghiệp, góp phần nâng tỷ lệ lao động chất lượng cao chiếm khoảng 8% toàn nền kinh tế vào năm 2045, hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất nội dung tự cường của khu vực.
PV: Chị có nhắc đến triết lý bện chặt giữa giảng dạy, biểu diễn và nghiên cứu khoa học. Điều này đóng góp gì vào tính tương tác mở của cuốn sách?
NSƯT Hương Giang: Đối với tôi, việc giảng dạy sinh viên, thực hành biểu diễn nghệ thuật trên sân khấu hay thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học để viết sách đều bổ trợ tương sinh và bện chặt vào nhau. Tri thức số bắt buộc phải là một dòng chảy mở. Để hoàn thiện hệ sinh thái này, tôi luôn giữ tinh thần cầu thị học hỏi từ các chuyên gia, đối tác, cộng sự và từ chính học sinh, sinh viên của mình. Sinh viên là những công dân số nguyên bản, các em mang lại xung lực mới về tư duy tiếp cận công nghệ, xu hướng tiêu dùng nhạc số; tôi mang đến chiều sâu di sản. Sự giao thoa và đối thoại thế hệ này là bộ lọc giúp tri thức trong cuốn sách không bị xơ cứng mà liên tục vận động theo hơi thở thời đại.
Bên cạnh đó, việc tích hợp công nghệ mã QR và chip sóng ngắn NFC sẽ giúp cuốn sách sẵn sàng tiếp nhận phản biện khách quan từ độc giả chỉ qua một chạm để không ngừng hoàn thiện trong các lần tái bản. Khi nốt nhạc được bảo vệ như tài sản quốc gia, chúng ta sẽ hướng tới tầm nhìn 2045: góp phần đưa Việt Nam trở thành một trung tâm sáng tạo nội dung tự cường, đóng góp thực chất vào sự phồn vinh của đất nước.
PV: Thông điệp mà tác phẩm muốn gửi gắm cho tầm nhìn phát triển kinh tế văn hóa đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 là gì, thưa chị?
NSƯT Hương Giang: Thông điệp mà tôi muốn gửi gắm là: Bản sắc dân tộc không bao giờ là rào cản của sự phát triển, mà chính là lợi thế cạnh tranh cốt lõi nhất của Việt Nam trên trường quốc tế. Để đưa âm nhạc từ giá trị tinh thần trở thành động lực kinh tế quốc gia, chúng ta phải chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình khai thác tài nguyên hữu hình sang vốn hóa tài nguyên trí tuệ dựa trên công nghệ thông minh.
Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, việc bảo quyền số theo Luật số 131/2025/QH15 là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ chất xám của con người trước sự lấn lướt của công nghệ máy tính. Máy móc có thể tạo ra âm thanh, nhưng mãi mãi trống rỗng về mã gene văn hóa và không bao giờ tính toán được giá trị của sự rưng rưng cảm xúc nơi khán giả.
Hệ sinh thái tri thức âm nhạc bền vững phải là một hệ sinh thái cộng sinh hài hòa giữa Nhà nước kiến tạo, Nghệ sĩ sáng tạo, Doanh nghiệp vận hành công nghệ và Công chúng tiêu dùng văn minh. Tầm nhìn chiến lược hướng tới năm 2045 đặt ra cho chúng ta một tâm thế tự cường, đưa Việt Nam trở thành một trung tâm sáng tạo nội dung của khu vực chứ không chỉ tiêu thụ thụ động giải trí ngoại nhập. Khi mỗi giai điệu mang hồn thiêng sông núi được chưng cất từ tư duy sản xuất chuyên nghiệp vang lên kiêu hãnh, đó là lúc chúng ta khẳng định trọn vẹn bản lĩnh và vị thế của trí tuệ Việt Nam trước nhân loại.
PV: Xin cảm ơn NSƯT Hương Giang về cuộc trò chuyện chuyên sâu và đầy tâm huyết này!
|
Thạc sĩ, Thượng tá, NSƯT Nguyễn Thị Hương Giang hiện là Giảng viên Thanh nhạc tại Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội. Với hơn 30 năm trực tiếp hoạt động và thực hành biểu diễn chuyên nghiệp, chị đã kinh qua nhiều vị trí nghệ sĩ biểu diễn trên các sân khấu lớn và các chương trình tầm vóc quốc gia. Trong sự nghiệp giáo dục và nghệ thuật, NSƯT Hương Giang còn là một giảng viên giàu kinh nghiệm, đồng thời từng đảm nhận vai trò tổng đạo diễn của trên 50 chương trình nghệ thuật lớn nhỏ trên cả nước. Trên địa hạt nghiên cứu khoa học, chị chuyên sâu đào sâu tư duy lý luận và là tác giả của 3 cuốn sách chuyên ngành về thanh nhạc, góp phần xây dựng hệ sinh thái tri thức âm nhạc toàn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của ngành công nghiệp văn hóa nước nhà. |