Quảng cáo #38

Thời niên thiếu của Lãnh tụ Fidel Castro Ruz

THỜI NIÊN THIẾU CỦA MỘT LÃNH TỤ

Tuổi thơ ở Birán - Don Ángel - El Batey - Người mẹ - “Ngôi nhà nhỏ đói khát” - Trường La Salle - Tiếng vọng của cuộc chiến tranh Tây Ban Nha - Các tu sĩ Dòng Tên ở trường Dolores

Ruồn gốc lịch sử rất quan trọng, chính vì vậy, tôi muốn hỏi ông: Ông sinh ra trong một gia đình tương đối khá giả, được học tại các trường tôn giáo dành cho người giàu, sau đó học Luật. Được đào tạo kiểu ấy, ông hoàn toàn có thể trở thành một nhà lãnh đạo bảo thủ, có đúng không?

Hoàn toàn đúng, bởi vì con người không hoàn toàn làm chủ số phận của mình. Con người cũng là sản phẩm của các hoàn cảnh, các thử thách và tranh đấu. Khó khăn rèn luyện con người như cái máy tiện gọt giũa một mẩu kim loại. Con người không phải sinh ra đã là người cách mạng, tôi dám nói như vậy.

Làm thế nào xuất hiện trong ông một nhà cách mạng?

Tự tôi trở thành người cách mạng. Đôi khi, tôi đã suy nghĩ về các yếu tố tác động đến việc đó. Xuất phát từ bối cảnh của nơi tôi sinh ra hoàn toàn là nông thôn, trong một điền trang.

Ông có thể mô tả nơi ông đã sinh ra không?

Tôi sinh ra trong một trang trại, tại vùng trung tâm phía bắc của tỉnh Oriente cũ, không xa vịnh Nipe lắm, và gần nhà máy đường Marcané. Nơi đó gọi là Birán. Đấy không phải là một thị trấn, cũng chẳng phải là một ngôi làng nhỏ; đó chỉ là một vài nóc nhà lẻ loi. Nhà của gia đình tôi ở đó, bên rìa đường cái cũ (Camino Real), như người ta thường gọi con đường đất lầy lội chạy từ huyện xuống phía nam. Những con đường lúc đó thật lầy lội. Người ta phải đi bằng ngựa hoặc xe bò kéo. Chưa có cơ giới, cũng chẳng có đèn điện. Khi tôi còn nhỏ, chúng tôi thường thắp sáng bằng nến sáp và đèn dầu hỏa.

Ông có nhớ ngôi nhà nơi ông đã sinh ra?

Đó là một ngôi nhà kiến trúc kiểu Tây Ban Nha, hay nói đúng hơn là kiểu kiến trúc vùng Galicia. Tôi phải nói rằng cha tôi là người gốc Tây Ban Nha, dân Gallego(*), thuộc làng Láncara, tỉnh Lugo, con của gia đình nông dân nghèo. Dân vùng Galicia có tập quán nhốt súc vật ở dưới sàn nhà. Nhà tôi được làm theo kiểu kiến trúc Galicia đó vì được xây dựng trên các cột. Các cột đỡ sàn nhà cao hơn 6 pies (khoảng 2m - ND), theo tập quán ở Galicia. Tôi nhớ là khi lên 3 hoặc 4 tuổi, tôi thường thấy những con bò cái ngủ ở dưới sàn nhà. Khi trời tối, người ta dắt chúng vào đó. Cũng ở đó, họ buộc chúng vào mấy cái cột để vắt sữa. Giống như ở Galicia, dưới sàn nhà, có cả một khu nhỏ được quây lại để nhốt lợn và gia cầm, ở đó, có gà mái, vịt, ngan, gà lôi(**), gà tây, kể cả vài con ngỗng.

Tôi đã thăm Birán. Và tôi cũng đã nhìn thấy ngôi nhà nơi ông sinh ra, đúng là một kiểu kiến trúc rất độc đáo.

Đó là một ngôi nhà gỗ. Các cột đỡ đều thuộc loại gỗ rất chắc, gỗ caguairan và các loại khác tương tự, trên các cột đó là sàn nhà. Tôi hình dung rằng ngôi nhà lúc đầu hình vuông. Sau đó nối thêm một khu nhà tắm và vệ sinh, kho thực phẩm, nhà ăn và bếp. Sau này lại có thêm một khu phụ: một loại văn phòng làm việc được xây cất ở một đầu hồi ngôi nhà chính. Phía trên căn nhà nguyên thủy hình vuông có một tầng thứ hai nhỏ hơn gọi là “đài quan sát”. Tại ngôi nhà đó, tôi đã được sinh ra ngày 13 tháng 8 năm 1926, vào lúc 2 giờ sáng, như người ta kể lại.

Trong môi trường đó, kể từ rất sớm, tôi đã quen với quang cảnh và công việc ở nông thôn, với cây cỏ, với cây mía, với gia cầm và côn trùng.

Ở Birán điều gây ấn tượng sâu sắc cho tôi là có thể cảm nhận được tinh thần lập nghiệp kiên cường của Don Ángel, cụ thân sinh của ông.

Đó là một con người giàu nghị lực. Ông đã tự học đọc và học viết với nỗ lực rất lớn. Tất nhiên, ông là một con người rất năng nổ, luôn luôn vận động, là người gan dạ và có tài tổ chức bẩm sinh.

Cha ông đến Cuba trong hoàn cảnh nào?

Cha tôi là con một gia định nông dân cực kỳ nghèo. Khi đến thăm Galicia năm 1992, tôi đã đến quê của ông, làng Láncara, và đã thấy ngôi nhà nơi ông chào đời. Đó là một ngôi nhà nhỏ, dài khoảng 10m và rộng khoảng 6m. Một ngôi nhà lợp ngói đá, một loại vật liệu rất phong phú ở địa phương được nông dân Gallego từ lâu đời sử dụng để xây nhà. Cả gia đình sống trong ngôi nhà nhỏ thôn dã đơn sơ và, tôi nghĩ còn có cả gia súc (sống ở dưới sàn nhà) nữa. Nhà chỉ có một phòng duy nhất cho cả chỗ ngủ và bếp. Ở đó không có những cánh đồng liền thửa, một mét vuông cũng chẳng có. Các gia đình canh tác trên những rẻo đất hẻo lánh và phân tán.

Lúc cha tôi còn rất trẻ, khoảng 16 hoặc 17 tuổi, ông bị tuyển đi lính ở Tây Ban Nha, và đến năm hơn 20 tuổi thì sang Cuba đúng vào thời kỳ có cuộc Chiến tranh giành độc lập lần thứ hai, khởi đầu từ năm 1895. Không biết chính xác ông đến Cuba trong điều kiện nào. Từ khi có hiểu biết, tôi chưa bao giờ hỏi cha tôi về những chuyện này. Thỉnh thoảng trong bữa ăn với một nhóm bạn bè, ông có kể đôi điều về đề 

tài đó. Nhưng chị tôi Angelita và anh Ramón, con thứ hai - cả hai đều còn sống - chắc là phải biết gì đó, vì họ thường nói chuyện với cha tôi nhiều hơn. Ngoài ra, khi tôi đi học ở La Habana rồi hoạt động cách mạng, tổ chức tấn công doanh trại Moncada, bị tù và sau đó hành trình trên tàu Granma, các em tôi, như Raúl kém tôi khoảng hơn 4 tuổi, và dưới đó là hai em gái, Enma và Juana, ở lại nhà, cũng là những người được nói chuyện khá nhiều với cha tôi, và có lẽ ông đã nói nhiều về cuộc đời mình, nhưng tôi không được nghe.

Qua họ, tôi được biết một số chuyện và giả thuyết cha tôi là một trong những chàng trai nghèo ở Galicia được một người giàu có nào đó trả một số tiền để thuê ông đi lính thay. Và rất có thể, cha tôi là một trong số những nông dân mà người ta tuyển mộ làm nghĩa vụ quân sự bằng cách đó. Anh cũng biết các cuộc chiến tranh ấy ra sao chứ?

Người ta tuyển lính theo cách bắt thăm, và những người giàu có thể trả tiền thuê người nghèo để thay họ làm nghĩa vụ quân sự hoặc ra trận^(1).

Vậy đó, chắc là như anh nói, có nhiều trường hợp khi đến lượt một người giàu phải làm nghĩa vụ quân sự hoặc ra trận, anh này đã dùng tiền thuê người nghèo khó, sống bằng mảnh đất chật hẹp hoặc bằng bất cứ công việc nào ở nông thôn, đi thay.

Cha tôi được đưa sang đây, với tư cách là một người lính Tây Ban Nha và đóng quân trên phòng tuyến^(2) từ Júcaro đi Morón. Và trong số các sự việc xảy ra khi đó có cuộc hành quân vượt qua phòng tuyến của Đội quân chinh phạt miền Đông (nghĩa quân Cuba - ND) dưới sự chỉ huy của Máximo Gómez và Maceo, ít lâu sau cái chết của Martí.

Họ phải vượt qua phòng tuyến đó bằng mọi cách, một nhiệm vụ khó khăn. Đó là một phòng tuyến trấn thủ từ bắc xuống nam, ở phần hẹp nhất của miền Trung đất nước, kéo dài nhiều cây số, có thể là gần 100km từ Morón ở phía bắc đến Júcaro, một cảng ở miền Nam. Tôi biết là cha tôi khá nổi bật ở phòng tuyến này. Nhưng tôi nghĩ rằng khi Maceo đi qua đó thì cha tôi chưa ở đấy. Nghĩa quân Cuba liên tục vượt qua đấy hoặc về phía cực bắc và tập trung quân tại một địa điểm, tên là Turiguanó, một loại đảo được nối liền với Morón bằng một vùng lầy 

lội. Cha tôi đã ở phòng tuyến đó, như một người lính nổi trội. Đấy là điều mà tôi biết, có lẽ là các anh, chị em của tôi còn biết nhiều hơn.

Ông không nhớ có lần nào nói chuyện với cha ông về mẩu lịch sử đó à?

Có lần nào đó, tôi đã nghe được đôi chút về chuyện này, khi tôi đến các trại công nhân ở Pinares de Mayarí, vì tính tôi thích đến bất cứ nơi nào, trừ ở nhà. Ngôi nhà đại diện cho quyền lực, còn tôi thì bị thúc đẩy bởi tinh thần quật khởi lúc đó đã bắt đầu hình thành trong tôi.

Ngay khi còn nhỏ, ông đã có tinh thần quật khởi?

Tôi có một số lý do để thành người như vậy. Trước sự độc đoán đáng kể của người Tây Ban Nha và nhất là người Tây Ban Nha có quyền ra lệnh, đó là quyền lực, sự kính cẩn bao trùm. Tôi không thích quyền lực vì thời kỳ đó, người ta còn dùng một số hình phạt về thể xác, như đánh vào đầu, đánh bằng dọng kiếm; chúng tôi có nguy cơ bị đòn, nhưng chúng tôi đã học được cách tự vệ.

Cha ông có là người độc đoán không?

Ông ấy là người có tài. Khó mà làm được như ông - sống tự lập, từ lúc còn trẻ, trước hết là trong chiến tranh, xa gia đình và xa đất nước, và sau đó, từ số không, chẳng một đồng xu, chẳng có quan hệ với ai, ban đầu còn mù chữ, chỉ duy nhất với nỗ lực bản thân, ông đã vươn lên có được một điền trang, một sự giàu có - nếu như không có một tính cách mạnh mẽ. Cũng như đa số những người nhập cư Gallego, ông có một đức tính giản dị và cần cù. Nhiều ý chí và cá tính. Nhưng ông không bao giờ thiên vị. Không bao giờ ông từ chối ai nhờ vả ông. Ông luôn quan tâm đến những khó khăn của người khác. Chính ông đã từng trải qua những thiếu thốn từ khi còn nhỏ. Tôi biết là ông bị mồ côi từ rất sớm - lúc 11 tuổi - mồ côi mẹ. Cha ông lấy vợ khác, và suy cho cùng, tuổi thơ của ông khá cực nhọc và bất hạnh; nhưng ông mang trong mình những đức tính cao quý của người di cư Gallego: hảo tâm, hiếu khách và hào hiệp.

Có nhiều bằng chứng cho thấy ông là một người hào hiệp. Thậm chí 

hảo tâm. Rất tốt bụng. Ông luôn giúp đỡ bạn bè và những người làm công, những người cơ nhỡ. Đôi khi ông phàn nàn và ca cẩm, nhưng không từ chối ai cả. Đến thời kỳ nhàn rỗi, khi kết thúc vụ thu hoạch mía và có ít việc làm, một người nào đó đến nói với ông: “Ông ạ, các con tôi đang gặp khó khăn, chúng tôi chẳng có gì cả, tôi cần một công việc gì đó”. Lúc đó, có ngay một chế độ khoán việc: “Thế thì anh hãy dọn sạch chỗ này đi”. Việc giao khoán này cũng là một trong những hình thức được áp dụng ở Cuba để làm giảm chi phí có lợi cho phía địa chủ: bao gồm một hợp đồng với một gia đình hoặc một cá nhân người lao động để dọn sạch một cánh đồng mía và anh trả cho họ một số tiền tính theo caballeria^(*) hoặc theo roza^(3), chứ không tính theo hécta. Theo tôi thì một caballeria bằng 18 roza. Ở mỗi nước Trung Mỹ và Nam Mỹ đều có một đơn vị đo lường khác nhau, rất may là sau này có hệ thống đo lường bằng mét được phát minh ra trong thời đại cách mạng Pháp. Người ta làm một hợp đồng: “Được rồi, tôi khoán cho anh công việc này với tiền công là 20 peso”. Cha tôi nghĩ ra một công việc dọn dẹp nào đó hoặc những công việc, thực ra chưa cấp bách lắm để giao khoán, mặc dù không lợi về mặt kinh tế cho người chủ. Tôi đã nhận ra điều đó khi đã lớn hơn một chút, tôi được bố trí làm tại văn phòng của điền trang trong mỗi kỳ nghỉ hè. Tại đấy, tôi đã chứng kiến ông đưa phiếu mua hàng cho người làm công, để nhận hàng hóa tại các cửa hàng, mặc dù chưa có hợp đồng lao động với họ.

Sau cuộc chiến tranh giành độc lập năm 1898, cha ông đã quyết định ở lại Cuba, có phải không?

Không, ông ấy đã được hồi hương về Tây Ban Nha sau chiến tranh năm 1898, nhưng có lẽ vì ông thích Cuba, nên cùng với nhiều người di cư Gallego khác, ông quay lại Cuba một năm sau đó. Trong các hồ sơ có ghi rõ rằng ông cập cảng La Habana tháng 12 năm 1899. Không một 

xu và không một mối quen biết nào, ông bắt đầu tìm kiếm công việc. Tôi không biết ông làm thế nào mà cuối cùng, ông định cư ở các tỉnh miền Đông. Đó là thời kỳ mà các đồn điền lớn của Mỹ trải rộng theo các cánh rừng gỗ quý bị đốn chặt và sử dụng làm chất đốt trong các nhà máy đường. Chính thứ gỗ ấy đã từng được dùng để xây dựng nên cung điện El Escorial^(*) và các công trình khác hoặc để đóng những con tàu nổi tiếng như tàu “Đức mẹ linh thiêng Trinidad”, chiếc tàu chiến lớn nhất và mạnh nhất thời kỳ đó, được đóng tại Xưởng đóng tàu La Habana, đã bị một cơn bão lật chìm, sau khi rơi vào tay quân Anh trong trận đánh Trafalgar năm 1805.

Người Mỹ đã sử dụng nhân công để đốn cây và trồng mía. Đất đai ở những nơi trước đây từng là cánh rừng thường màu mỡ, nên các vụ thu hoạch đầu tiên rất tốt.

Cha ông có làm việc cho người Mỹ không?

Cha tôi bắt đầu làm việc ở Oriente như một người lao động giản đơn tại công ty nổi tiếng United Fruit Company, đóng tại vùng phía bắc miền trung của tỉnh này. Sau đó, ông tổ chức một đội lao động, và nhận làm hợp đồng cho công ty Mỹ với một nhóm người dưới quyền của ông. Tôi nghĩ rằng cha tôi đã có tới 300 người dưới quyền - tôi đã nghe được con số này đôi lần - và điều đó đã mang lại giá trị thặng dư. Ông có một số năng lực về tổ chức. Nhưng ông không biết đọc, biết viết, nên ông đã phải học rất vất vả. Ông bắt đầu từ công việc nhỏ là đốn cây rừng để lấy đất trồng mía và lấy gỗ làm củi cho các nhà máy đường. Với công việc đó, ông bắt đầu thu được một số khoản lợi nhuận với cương vị là người tổ chức của đội lao động, gồm toàn những người nhập cư - theo tôi nghĩ - nhiều người trong số đó là người Tây Ban Nha và người vùng quần đảo Ăngti: người Haiti hoặc Giamaica.

Cuối cùng có bao nhiêu đất thuộc sở hữu của ông?

Ông đã tậu được gần 900 héc ta thuộc sở hữu riêng, và sau đó, thuê thêm vài nghìn héc ta đất của hai vị tướng tham gia cuộc chiến tranh giành độc lập của Cuba. Đến nay vẫn không ai biết từ đâu các vị đó có được số đất ấy. Những cánh rừng thông bạt ngàn, phần lớn là rừng nguyên thủy. Diện tích đất này trải rộng theo các thung lũng và núi, trong đó, có một cao nguyên lớn ở độ cao khoảng 600 mét, là một cánh rừng thông tự nhiên. Cha tôi khai thác các rừng thông ở vùng Mayarí. Mười bảy chiếc xe tải chở gỗ thông hàng ngày từ trên đó xuống. Thu nhập khác từ mía và chăn nuôi cũng kha khá, vì cha tôi có đất riêng, phần lớn là ở đồng bằng hoặc đất đồi. Tổng cộng, tất cả hơn mười nghìn héc ta.

Một con số phi thường.

Nếu anh cộng gộp lại, thì cha tôi có gồm một phần thuộc sở hữu riêng và một phần là thuê của người khác, tổng cộng không dưới 11 nghìn héc ta đất.

Một số lượng đáng kể.

Đúng, một số lượng đáng kể. Tôi có thể nói với anh rằng, đúng là trong hoàn cảnh đó, tôi thuộc về một gia đình hơn cả mức “tương đối” giàu có. Một gia đình, trong mức thang ấy, là khá giàu có. Tôi không nói ra điều đó như để kể thành tích, càng không có ý thế, mà để nói con số chính xác, để trình bày sự việc với tất cả độ chính xác của nó.

Như vậy ông là con của một triệu phú.

Không, là triệu phú thì không phải. Về cha tôi, không bao giờ người ta nói ông là triệu phú. Vào thời kỳ đó, triệu phú là một thứ khổng lồ, phải là người thật sự có nhiều tiền. Trong thời kỳ ấy, đồng đô la rất giá trị và một người lao động thu nhập trung bình một đô la một ngày, thì triệu phú tức là người có một triệu lần hơn số thu nhập của một người trong một ngày. Các tài sản của cha tôi không thể đáng giá đến ngần 

ấy. Không thể nói cha tôi là triệu phú, mặc dù ông khá giàu và có địa vị kinh tế tốt, để ít ra, trong xã hội nghèo khó và cực nhọc ấy, người ta coi chúng tôi là con cái nhà giàu. Tôi khẳng định với anh là nhiều người đã ve vãn chúng tôi và muốn kết thân chỉ vì lợi ích thuần túy, nhưng chúng tôi đã không nhận ra.

Ở Birán, cha ông không chỉ xây dựng một ngôi nhà, mà còn xây thêm nhiều ngôi nhà khác dọc con đường cái quan ấy: một xưởng bánh mì, một nhà trọ, một quán rượu, một trường học, các nhà ở cho những người làm công Haiti... Thực sự là một thị trấn nhỏ.

Nơi chúng tôi sống không có thị trấn mà chỉ có một số công trình xây dựng. Đúng nhất có thể gọi đó là một thôn trang$^{(*)}$. Khi tôi còn nhỏ, ở dưới ngôi nhà là xưởng chế biến sữa. Sau đó, người ta xây một xưởng chế biến sữa cách nhà khoảng 40 mét; và đối diện là một xưởng sửa chữa nông cụ, cày, cuốc, và những công cụ khác. Và một lò sát sinh được xây dựng ở gần đấy. Cũng ở cách nhà khoảng 40 mét, theo hướng khác, là lò bánh mì, và cách đó không xa là trường tiểu học, một ngôi trường công bé tí xíu. Cạnh con đường còn có một cửa hiệu với kho thực phẩm và các hàng hóa khác, và ở bên kia là nhà Bưu điện và điện tín. Cách đó không xa mọc lên một số nhà ở tạm rất đơn sơ, một số lều nền đất, mái lá cọ, ở đó, đúng là có vài chục người nhập cư Haiti sống trong cảnh rất nghèo nàn, họ làm công việc trồng và chặt mía, hoạt động chính của điền trang bấy giờ. Ở gần nhà còn có một vườn cam lớn mà đích thân cha tôi cắt tỉa cành bằng cái kéo to phải điều khiển bằng cả hai tay, có khoảng 12 hoặc 14 héc ta ở đó, ngoài cam còn có đủ loại cây ăn quả được trồng rải rác hoặc thành từng cụm nhỏ, như chuối, đu đủ, dừa, mãng cầu xiêm, na, đủ thứ, thậm chí có ba nhà nuôi ong với 40 tổ ong hoặc hơn, cho rất nhiều mật. Đến lúc này, tôi còn có thể nhắm mắt mà đi dạo trong vườn cam đó, ở đấy, tôi thuộc từng loại 

cam được trồng ở đâu, những cây cam mà tôi đã từng hái quả, bóc vỏ bằng tay và thưởng thức vào mỗi dịp nghỉ hè và lễ Nôen. Không ai đã ăn nhiều cam như tôi.

Và còn có một khu nuôi gà trông rất hấp dẫn. Ở đó có tổ chức chọi gà không?

Có. Ở cách nhà khoảng 100 mét, cũng dọc theo con đường đó, có một khu quây hàng rào để nuôi gà trống mà anh đã nhắc đến. Đó là một nơi mà vào các ngày Chủ nhật, giữa vụ thu hoạch mía, và cả trong những ngày lễ Nôen, năm mới, ngày Thứ bảy vinh hiển và ngày Chủ nhật phục sinh, thường diễn ra các cuộc chọi gà. Ở nông thôn, đó là một thứ thể thao.

Một trò giải trí ở địa phương.

Đúng thế. Vì có ít trò giải trí. Người ta chơi đôminô, người ta còn chơi bài; khi còn trẻ và lúc tại ngũ, cha tôi rất thích chơi bài, hình như ông là một tay chơi bài rất giỏi. Trong nhà tôi, kể từ khi tôi lên ba tuổi, còn có một máy quay đĩa chạy bằng dây cót, có nhãn hiệu tôi nhớ là RCA Victor, để nghe nhạc. Chẳng ai có lấy một chiếc đài thu thanh. Tôi cho rằng cha tôi là người duy nhất có đài, cái đài ấy được mua về, khi tôi lớn, khoảng 7 hay 8 tuổi. Gì nhỉ? Lớn hơn à! Có thể là 10 hay 12 tuổi, tức là vào năm 1936 hoặc 1937, khi ấy đã bắt đầu cuộc nội chiến Tây Ban Nha, chúng tôi có một cái đài và một máy phát điện nhỏ, một cái máy nổ chạy khoảng hai tiếng đồng hồ mỗi ngày, để nạp điện cho một số ắcquy. Hầu như hàng ngày phải đổ cho nó một ít nước mưa.

Tất cả những thứ đó là tài sản của cha ông, phải không?

Trừ trường học và bưu điện là của Nhà nước, những thứ còn lại là tài sản của gia đình tôi. Khi tôi sinh ra năm 1926, cha tôi đã tích lũy được khá nhiều của cải và là một điền chủ rất giàu có. Người ta gọi ông là Don Ángel, “Don Ángel Castro”, một người rất được kính trọng, có nhiều quyền lực trong khu vực giống như một loại thái bảo đó. Vì vậy, 

tôi nói với anh, trên thực tế, tôi là con của một gia đình có ruộng đất; cha tôi đã mua ruộng đất dần dần từ nhiều năm.

Xin ông hãy nói về người mẹ của ông.

Mẹ tôi tên là Lina, là người Cuba ở miền Tây, thuộc tỉnh Pinar del Río hậu bối của dân đảo Canaria; bà cũng xuất thân từ nguồn gốc nông dân và gia đình nghèo khó. Ông ngoại tôi là người đánh xe, chuyên chở mía trên một chiếc xe bò. Khoảng năm 13, 14 tuổi, bà cùng với cha mẹ và các anh chị em từ Camagüey, chuyển đến Birán. Trước đó, họ đã đi tàu hỏa từ Pinar del Río đến Camagüey để tìm vận may. Sau đó, họ di chuyển bằng xe bò qua nhiều chặng đường dài, đầu tiên đến Guaro và cuối cùng đến Birán.

Mẹ tôi là người mù chữ, và cũng như bố tôi, bà đã tự học đọc và viết, cũng với rất nhiều cố gắng và ý chí. Chưa bao giờ tôi nghe bà nói đã từng đến trường. Bà đã tự học. Bà là người hết sức cần cù, không có một việc nhỏ nào lọt khỏi tầm mắt của bà. Bà là đầu bếp, thầy thuốc, người trông coi tất cả chúng tôi, cung cấp cho chúng tôi mọi thứ cần thiết, dỗ dành chúng tôi hằng ngày trước bất cứ khó khăn nào. Bà không nuông chiều chúng tôi; bà đòi hỏi chúng tôi phải ngăn nắp, tiết kiệm, sạch sẽ. Bà quán xuyến công việc hằng ngày trong và ngoài nhà, bà là tay hòm chìa khóa của gia đình. Không ai biết bà lấy đâu ra thời gian và nghị lực để làm bấy nhiêu công việc; bà chẳng bao giờ ngồi không, tôi chưa bao giờ thấy bà nghỉ một giây trong ngày. Bà đã mang đến cho thế giới này bảy người con, tất cả được sinh ra trong ngôi nhà đó, lần nào cũng do một bà mụ quê mùa đỡ đẻ. Ở đó không bao giờ có và cũng không thể có được một bác sĩ, trong cả cái vùng hẻo lánh ấy chẳng có lấy một người. Không ai nỗ lực nhiều đến thế để cho các con mình được học hành, bà muốn các con có được điều mà bà đã không có. Nếu không có bà thì tôi, người luôn luôn cảm thấy thích thú với việc học, giờ đây, có lẽ vẫn chỉ là một anh chàng mù chữ bẩm sinh.

Mẹ tôi, mặc dù rất ít khi thể hiện, nhưng bà rất yêu quý các con mình. Bà là người có tính cách dũng cảm và nhẫn nhịn. Bà biết chịu đựng một cách kiên cường, và không nao núng trước những nỗi khổ 

tâm mà một vài anh em chúng tôi đã gây nên cho bà một cách vô ý thức. Bà đã chấp nhận mà không kêu ca, cuộc cải cách ruộng đất và phân chia đất đai của gia đình mà tất nhiên là bà rất yêu quý.

Bà vô cùng sùng đạo, trong niềm tin và sự sùng tín của mình, điều mà tôi luôn luôn tôn trọng, bà tìm thấy sự an ủi trong nỗi đau của người mẹ và cũng chấp nhận với tình yêu của người mẹ, cuộc Cách mạng mà đã mang đến cho bà nhiều nỗi xót xa, vì nguồn gốc nông dân nghèo hèn đã không cho bà một cơ hội tối thiểu để hiểu biết về lịch sử nhân loại và các nguyên nhân sâu xa của các sự kiện mà bà đã trải qua. Bà mất ngày 6 tháng 8 năm 1963, ba năm rưỡi sau ngày Cách mạng thành công.

Còn cha ông qua đời khi nào?

Cha tôi mất trước. Ông già hơn mẹ tôi nhiều. Ông mất ngày 21 tháng 10 năm 1956. Hai tháng sau khi tôi tròn 30 tuổi và hai tháng trước khi chúng tôi bắt đầu cuộc trở về Cuba từ Mêhicô trên con tàu Granma.

Cha ông có nói tiếng Gallego không?

Có, nhưng ông không bao giờ dùng.

Ông có nghe thấy cha ông nói tiếng Gallego lần nào không?

Có đôi lần tôi nghe thấy ông nói vài câu bằng tiếng Gallego. Ở đó có một số người Gallego sinh sống và có thể cha tôi đã nói chuyện bằng tiếng Gallego với họ, có thể như vậy. Nhưng cũng có những người Tây Ban Nha từ các tỉnh khác, ví dụ như Asturia, họ không nói tiếng Gallego. Có lẽ là những người Gallego đã chấp nhận tiếng Tây Ban Nha, họ có thể nói bằng tiếng Tây Ban Nha, họ quen thứ tiếng này, hiểu nhau tốt hơn, và ngoài ra, họ không thể nói bằng tiếng Gallego với người Cuba, vì chẳng ai hiểu họ. Với một người làm công, họ phải nói bằng tiếng Tây Ban Nha, với tất cả mọi người, thậm chí với người yêu hoặc với vợ, vì những người này không biết tiếng Galicia; vì thế, tôi không bao giờ nghe thấy cha tôi nói bằng tiếng Gallego.

Khi bắt đầu cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, ông mới 10 tuổi.

Khi đó tôi chưa đủ 10 tuổi. Tôi sinh ngày 13 tháng 8 năm 1926 và chiến tranh Tây Ban Nha bắt đầu ngày 18 tháng 7 năm 1936. Lúc đó tôi mới 9 tuổi và 11 tháng; tất nhiên, tôi đã biết đọc và biết viết.

Ông có nhớ ví dụ như cha ông đã lo lắng về cuộc chiến tranh đó hoặc đã nói gì về cuộc nội chiến Tây Ban Nha không?

Ở Birán có hai phái, trong số 12 hoặc 14 người Tây Ban Nha sống và làm việc ở đó.

Những người Tây Ban Nha cùng phái với cha ông, họ đã đến nhà ông?

Đó là những người đã làm việc cho cha tôi với những chức trách khác nhau hoặc như những công nhân. Có một người Asturia* là một kế toán viên có trình độ văn hóa khá. Ông ấy nói rằng biết tới bảy thứ ngữ và tôi tin điều đó, vì từ khi nhà tôi có cái đài thu thanh, mỗi lần bắt được đài bằng tiếng Anh hoặc kể cả tiếng Đức, thì ông ấy đều dịch được; ông ấy viết chữ kiểu gôtích rất đẹp, và biết tiếng Latinh. Bác Asturianito này - tôi gọi ông ấy là Asturianito (người Asturia nhỏ con - ND) vì ông ấy rất thấp - chắc chắn là người hiểu biết nhiều nhất, người có văn hóa khá hơn cả ở nơi đó. Ông ấy biết về nước Hy Lạp, thường nói đến Demostenes, một diễn giả lớn, và Demostenes là người thế nào, như việc ta ngậm một viên đá nhỏ trong mồm để chữa tật nói lắp của mình. Chính bác Asturianito đó là người đã kể với tôi về các chuyện này và nhiều chuyện khác nữa.

Nhóm người ấy, cộng với một số người nữa, khi nổ ra cuộc chiến tranh, đã đứng về phe những người khởi nghĩa, như cách người ta đã gọi những người chống lại nền Cộng hòa.

Tức là những người theo phái Franco phải không?

Đúng thế. Và có một nhóm khác ủng hộ phái Cộng hòa. Họ là những 

người lao động và một số người mù chữ. Trong nhóm này, có một số lớn là người Cuba, một trong số họ là ông Valero, trưởng trạm điện tín của Bưu điện và một người là đầu bếp vốn trước kia là lao công ở bộ phận chăn nuôi gia súc, bị bệnh thấp khớp, đến mức không thể đi lại được, nên được chuyển về làm đầu bếp trong nhà tôi. Mặc dù tôi rất tôn trọng và rất quý ông ấy - nhưng tôi vẫn phải nói rằng ông không phải là một đầu bếp giỏi, ít ra là ở nhà tôi mọi người đều phàn nàn nhiều về cách nấu ăn của ông. Họ của ông là García. Một người hoàn toàn mù chữ.

Một người mù chữ?

Phải, tôi xin lấy tuổi thơ của tôi để đảm bảo rằng, ở Birán chỉ có dưới 20% những người sống ở đó biết đọc và viết, và chính những người này đọc, viết cũng còn vấp. Rất ít người học đến lớp 6. Cuộc sống đó đã giúp tôi ngày nay hiểu được một người mù chữ khổ sở như thế nào. Không ai hình dung được điều đó; vì có một thứ gọi là tự ti. Thế nào là người mù chữ? Đó là người đứng ở nấc thang cuối cùng của xã hội và phải nhờ một người bạn viết hộ bức thư gửi người yêu. Ở Birán, ai không biết viết thì nhờ những người biết viết hộ thư cho phụ nữ mà họ thích. Nhưng không phải là người nông dân đó đọc cho người khác viết hộ một bức thư rằng ví dụ, anh suốt đêm mơ thấy cô ấy và anh quên ăn vì nghĩ tới em, mà anh ta chỉ nói với người biết chữ thế này: “Không, không, anh hãy viết những gì mà anh nghĩ rằng tôi cần phải thổ lộ với cô ấy”. Để chinh phục người yêu! Tôi không phóng đại đâu. Tôi đã sống qua một thời kỳ có sự việc như thế.

Bản thân ông còn nhớ chút nào về các cuộc tranh luận về cuộc nội chiến Tây Ban Nha không?

Năm 1936, tôi sống nội trú trong một trường học ở Santiago de Cuba, và vào mùa Hè năm ấy khi cuộc nội chiến bắt đầu, tôi đang nghỉ hè ở Birán, lúc ấy tôi chưa đầy 10 tuổi, tôi không nhớ là mình đã học xong lớp hai chưa.

Điều gì đã xảy ra? Khi tôi từ Santiago trở về nghỉ hè ở Birán, vì tôi đã biết đọc, biết viết, nên ông Manuel García, người đầu bếp một chân 

đi tập tễnh, rất chăm chỉ, lúc đó sống trong một ngôi nhà nhỏ gần Bưu điện, đã vội vã đến nhờ tôi đọc báo cho ông ấy nghe. Ông ấy là một người ủng hộ nền Cộng hòa một cách cuồng nhiệt - để anh thấy thế nào là tinh thần giai cấp, nhiều lần tôi tự hỏi tại sao ông ấy lại cuồng nhiệt như vậy và cũng rất ác cảm với nhà thờ, cần phải nói sự thật - và thế là tôi đọc báo cho ông ấy nghe và ông ấy biết tin tức về cuộc chiến tranh ở Tây Ban Nha. Nhờ thế, tôi biết về cuộc chiến tranh đó ngay từ trước khi tròn 10 tuổi. Tôi đọc cho ông ấy nghe vài tờ báo. Có vài tờ báo được gửi tới Birán, trong đó có một tờ tôi nhớ hình như gọi là Thông tin và một báo khác như: Thế giới, Đất nước và Nhật báo Cuba; nhưng tờ báo chính gửi đến đó là tờ Nhật báo Hải quân.

Đó là một tờ báo của La Habana phải không?

Không, không phải của riêng La Habana mà là của cả nước. Đó là một tờ báo thân Tây Ban Nha từ thời chiến tranh giành độc lập và là tờ báo hữu khuynh nhất trong số các tờ báo xuất bản trong nước cho đến khi Cách mạng thành công. Tờ báo này có một phụ trương ảnh, ra vào các số Chủ nhật. Tờ báo đó rất nổi tiếng. Có rất nhiều trang quảng cáo, một tập dày và tôi đến ngôi nhà nhỏ bằng gỗ để đọc cho ông đầu bếp ấy nghe. Tôi đọc tất cả. Trên báo chí, người ta gọi những người chống lại nền Cộng hòa là “những người khởi nghĩa”, với một hàm ý ngợi ca...

Đó là cách gọi những người theo Franco?

Đối với những người còn được gọi là “phái quốc gia”, còn với những người đối lập thì người ta gọi là “bọn đỏ”, hay “bọn hồng” với thái độ khinh miệt, và thỉnh thoảng, để tỏ ra lịch thiệp, báo này gọi họ là “những người Cộng hòa”. Đó là tờ báo chính đến Birán, tờ báo nổi tiếng, và nhiều trang nhất với nhiều tin tức, giấy tốt và nhiều quảng cáo; tôi thường đọc báo đó cho ông García nghe. Tuy rằng đôi khi còn có báo khác, nhưng tờ đăng nhiều tin về chiến tranh Tây Ban Nha hơn cả là tờ Nhật báo Hải quân. Tôi nhớ cuộc chiến tranh ấy, hầu như ngay từ đầu. Tôi nhớ, ví dụ, việc quân đội Cộng hòa chiếm Teruel.

Còn mặt trận Ebro?

Trận Ebro là mãi sau này, gần cuối cuộc chiến tranh.

Còn cuộc chiến đấu ở Madrid?

Đúng. Madrid bị bao vây. Cú đòn mà quân Cộng hòa giáng cho đám quân của Mussolini ở Guadalajara khi chúng tiến về Madrid; và như tôi đã nói với anh, khi quân Cộng hòa tiến đánh và chiếm được Teruel. Rồi đến cuộc tổng phản công của tướng Mola để chiếm lại thành phố và các tin tức khác về đám người tập hợp tại Burgos, thủ đô của phái Franco. Pháo đài mà quân Franco bị bao vây gọi là gì nhỉ?

Gọi là pháo đài Toledo.

Đúng, pháo đài Toledo. Tôi đã đọc cho ông García nghe về trận đánh ở pháo đài Toledo, và tôi đứng về phía ông đầu bếp người Gallego ấy. Thậm chí tôi còn an ủi ông ta. Tôi nói với ông ấy: “Ông xem này, trận đánh Teruel tiến triển tốt - tôi nhớ như thế - đang diễn ra tốt, ông xem những gì họ đã làm; xem này, người ta đang đánh nhau ở đây, và ở kia”. Mỗi tin đưa về thắng lợi của phái Cộng hòa được đưa trên báo, tôi đều đọc cho ông ấy nghe. Đó là tình hình ở Birán, đúng như tôi đang kể cho anh nghe.

Cha ông ủng hộ một trong các phái hay đứng ngoài cuộc?

Không, cha tôi chống lại nền Cộng hòa.

Chống lại nền Cộng hòa?

Đúng, đúng vậy và còn những người khác nữa, một ông người Asturia, ông kế toán, đúng thế, và một số người khác nữa. Tôi nghĩ rằng có lẽ hầu như đa số những người Tây Ban Nha ở Birán đều theo lập trường chống lại nền Cộng hòa. Nhưng có nhóm khác, trong đó có ông García và một số người Tây Ban Nha khác nữa và Valero, ông nhân viên điện tín người Cuba, đều là những người ủng hộ phái Cộng hòa hết mình. Và đôi khi những người kình địch về tư tưởng đó lại chơi đôminô với nhau.

Họ có làm cuộc chiến đôminô không?

Những người có cảm tình và những người là thù địch của nền Cộng hòa đã tụ họp với nhau. Họ đối đầu nhau trong các trận đấu đôminô sôi nổi. Hơi giống theo kiểu Don Camilo, như trong tiểu thuyết nổi tiếng của Guareschi, giữa cha cố và người cộng sản$^{(4)}$. Vào các kỳ nghỉ, dù là suốt mùa Hè hay dịp giao thừa và lễ Nôen, tôi làm độc giả ở quê suốt 15 ngày, và cả trong thời gian Tuần lễ thánh, tôi cũng làm việc đó. Tôi không biết ai đọc tin tức cho ông García nghe khi tôi sống ở trường học. Ông ấy không có đài. Chỉ có cha tôi ở ngôi nhà lớn là có đài thu thanh.

Nhờ có ông Manuel García đó mà ông đã theo dõi rất sát cuộc nội chiến Tây Ban Nha, có đúng không?

Đúng thế. Vì vậy, tôi nhớ rõ về cuộc nội chiến xảy ra, trong đêm trước của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, với sự đối đầu của các tư tưởng Cộng hòa và tư tưởng “dân chủ” phương Tây - tôi có thể đặt nó trong dấu ngoặc kép - với các tư tưởng diệt chủng, bá quyền và đế quốc của chủ nghĩa phát xít Italia và Đức quốc xã. Điều gì đã xảy ra ở Tây Ban Nha và tại sao nền Cộng hòa Tây Ban Nha sụp đổ, và thái độ “không can thiệp” của cái gọi là các nền dân chủ phương Tây trước cuộc can thiệp của Hítle và Mussolini ngay từ đầu cuộc chiến tranh là thế nào? Điều ấy có nghĩa gì? Sự kiện đó đã góp phần mở đường cho cuộc chiến tranh thế giới.

Các trận đánh đầu tiên đã diễn ra ở ngay chính tại Tây Ban Nha, và ở đó, có các lực lượng tả và hữu; những người gọi là “quốc gia” được Mussolini và Hítle ủng hộ; và phái Cộng hòa Tây Ban Nha, là cánh tả pha trộn trong “chế độ dân chủ”, nhưng đó là lực lượng tiên tiến hơn mà người ta có thể chấp nhận vào thời điểm ấy là đúng nhất, mang tính nhân dân nhất, vì nước Cộng hòa Tây Ban Nha đã giương cao tư tưởng tiến bộ, trong một xã hội hầu như còn phong kiến, một xã hội thậm chí chưa được công nghiệp hóa, sống bằng những thu nhập từ các thuộc địa của mình trong thời gian dài. Nhân dân Tây Ban Nha là một dân tộc có tính chiến đấu cao.

Tại đó, đã có nhiều nhà tu hành đối địch nhau và thậm chí bắn giết nhau. Có những cha cố theo Cộng hòa và các cha cố - có thể là đa số - đứng về phía “những người khởi nghĩa” hoặc “những người quốc gia chủ nghĩa” hoặc gọi là phái Franco. Trong thời kỳ đó, các thầy giáo người Tây Ban Nha ở trường học của tôi ở Santiago đều nói về cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Xét theo quan điểm chính trị thì họ là những người quốc gia chủ nghĩa, nói một cách thành thực hơn, thì họ là những người theo phái Franco, tất cả, không trừ một ai. Họ nói nhiều về những nỗi khủng khiếp của chiến tranh, về những người phái quốc gia bị bắn, kể cả các nhà tu hành cũng bị bắn. Nhưng họ không nói về những người Cộng hòa bị bắn. Vì cuộc nội chiến Tây Ban Nha rất đẫm máu và cả hai phe đều có bàn tay sắt.

Tôi nhớ là sau cuộc chiến tranh đó, một trong những thầy giáo của tôi đã kể cho tôi nghe những con số thống kê dài về số lượng tù binh cộng hòa bị bắn ở Tây Ban Nha khi nội chiến kết thúc. Sau này, khi học ở trường Belén cũng thuộc Dòng Tên, ở La Habana, tôi chơi thân với một số cố đạo trẻ, như cha Llorente, từng là nhân viên cứu thương trong chiến tranh. Ông ấy kể cho tôi nghe nguyên nhân tại sao sau chiến tranh người ta đã xử bắn không biết bao nhiêu vạn người và ông ấy được cử làm nhân viên y tế để kiểm tra từng người bị bắn xem họ còn sống hay chết trước khi đem chôn. Ông ta kể cho tôi nghe những tình tiết của sự việc mà ông đã chứng kiến. Chắc chắn là ông bị xúc động mạnh. Cũng có những người Công giáo và Thiên chúa giáo đứng về phía Cộng hòa, không phải là ít.

Tôi đã nói về những kỷ niệm của tôi về sự kiện đó. Tất nhiên là sau đó, người ta đã đọc khá nhiều về đề tài này, nhưng tôi kể cho anh nghe những sự việc mà tôi biết khi ấy.

Trận đánh Ebro diễn ra năm 1938, nếu tôi nhớ không nhầm. Đó là cuộc phản công cuối cùng của phái Cộng hòa. Về sự kiện này, người ta đã viết nhiều sách và dựng thành phim. Nhưng tôi đọc báo từ khi 10 tuổi, tôi đã thấy cuộc chiến tranh ấy diễn biến thế nào.

Ông có cho rằng việc quan tâm đến cuộc chiến tranh Tây Ban Nha khi còn rất nhỏ như vậy đã có một ảnh hưởng nào đó trong sự trưởng thành của ông?

Có. Tầm quan trọng của sự kiện mang tính quốc tế. Nhưng thanh niên thường thích các sự tích chiến tranh. Tôi cũng thích, như tất cả mọi người, các phim về miền Tây$^{(*)}$ và ngoài ra tôi coi các phim đó là nghiêm túc.

Mặc dù đó là những phim rất phân biệt chủng tộc trong thời kỳ ấy, đúng vậy không? Phim chống những người thổ dân?

Chúng tôi đã coi là nghiêm túc các kỹ xảo của các phim cao bồi. Đúng hơn, tôi đã coi các kỹ xảo ấy là nghiêm túc lúc còn là một cậu bé. Sau đó, khi lớn khôn và chín chắn hơn, tôi xem các phim đó để giải trí như xem một trò vui: nào là một cú đấm vào đối thủ ở đằng sau quầy rượu, nào là chai rượu whisky đỏ lựng. Tôi nhớ tất cả những chi tiết ấy. Những khẩu súng lục không bao giờ được bắn hết đạn trừ khi tuân theo một hành động tính trước; thời kỳ đó chưa có súng máy, chỉ có các phát đạn bắn ra không ngớt. Họ treo mình trên các cành cây khi người kỵ mã hết đạn và bị truy đuổi. Mọi cậu bé đều thích xem các phim đó. Họ được giáo dục về bạo lực từ khi mới sinh ra. Tóm lại, khi đọc tin tức về cuộc chiến tranh ấy, tôi hình dung được tất cả những gì sẽ diễn ra sau đó trên thế giới.

Sau đó chiến tranh thế giới đã đến.

Tôi còn nhớ chính xác thời điểm cuộc chiến tranh đó bắt đầu, ngày 1 tháng 9 năm 1939. Lúc đó, tôi đã 13 tuổi, và tôi đã đọc tất cả: cuộc đánh chiếm Ruhr, việc sáp nhập nước Áo, cuộc chiếm đóng các vùng đông nam, Hiệp ước Môlôtốp - Ribbentrốp, cuộc xâm chiếm Ba Lan. Tôi chưa 

nhận thức được nhiều về ý nghĩa của các sự kiện, nhưng tôi đã tiếp nhận tất cả.

Tôi có thể nhắc lại các trận đánh và các diễn biến chính từ khi bắt đầu cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai năm 1939 đến 1945, khi người ta thả hai quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản. Tôi có thể nói nhiều về đề tài này vì tôi quan tâm đến các sự kiện. Nhưng trước đó, còn có cuộc chiến tranh ở Êtiôpia, khi tôi đang học những năm đầu tiên.

Ông có nhớ cuộc chiến tranh ở Êtiôpia không?

Có chứ. Người ta bán một vài chiếc bánh quy với các bưu ảnh nhỏ mang hình ảnh cuộc chiến tranh của những người Italia ở Abisinia$^{(5)}$, như mọi người thường gọi.

Được gọi là cuộc chiến tranh Abisinia.

Phải, cuộc chiến tranh Abisinia, khi ấy người ta biết về nó với cái tên gọi như thế. Người ta bán bánh quy, để bán được nhiều bánh, họ tung ra một bộ bưu ảnh (mỗi gói bánh được tặng thêm một tấm ảnh) nhưng trong đó, họ cất đi hoặc đưa ra rất ít tấm ảnh về 10 hoặc 12 sự kiện hoặc hành động. Một số các bưu ảnh nhỏ đó, tôi nghĩ là chẳng bao giờ được in ra để cho các cậu bé làm cạn túi tiền của bố mẹ chúng bằng cách mua những chiếc bánh quy. Tôi gần như thành chuyên gia sưu tầm và chơi các tấm bưu ảnh trong thời gian cuộc chiến tranh đó. Khi đó, tôi ở trường La Salle, ở Santiago, và tôi đã học được cách chơi với những tấm bưu ảnh ấy; bạn áp chúng vào tường, giữ chúng ở mép trên bằng móng ngón cái tay phải, rồi thả ra cho chúng vừa rơi vừa quay vòng. Thắng cuộc là tấm bưu ảnh rơi đè lên tấm khác. Tôi có đánh dấu trên tường, giữ cho không bị gió thổi và các chi tiết khác, tất cả là một kỹ năng rất hiệu quả. Không biết là tôi đã thu thập được bao nhiêu tấm bưu ảnh.

Tôi vẫn nhớ các hình ảnh và màu sắc xuất hiện trên các tấm bưu ảnh thực sự được phát hành. Và các chú bé luôn luôn tìm kiếm các tấm bưu ảnh không bao giờ xuất hiện.

Có phải luôn luôn thiếu một số tấm bưu ảnh?

Có một số tấm không xuất hiện là do có chủ ý từ trước, nhằm khuyến khích mua bánh. Thủ thuật của chủ nghĩa tư bản. Tôi không nhớ là có một bộ sưu tập nào hoàn chỉnh.

Có lần, một anh chàng đến và kể cho tôi nghe rằng anh ta có một album quý của Napoleón Bonaparte. Đó không phải là các tấm bưu ảnh màu nhỏ in trên giấy cáctông mỏng; các tấm bưu ảnh của album làm bằng vật liệu khác, trông sang hơn, giống như là những tấm ảnh chụp một bộ sưu tập hoàn chỉnh - tôi còn giữ nó ở đâu đó, Eusebio Leal$^{(6)}$ đã tìm thấy nó mới đây; anh chàng kia đề nghị tôi đổi bằng 100 chiếc bưu ảnh về cuộc chiến tranh Abisinia mà tôi tích trữ được. Tôi chấp nhận ngay vì cuốn album là một của quý.

Dám chắc là ông quan tâm đến chiến tranh.

Anh thấy đấy, Kinh thánh nói khá nhiều về các sự kiện bi thảm và các cuộc chiến tranh. Ngay từ khi học lớp một, trong môn Lịch sử Thần thánh - người ta gọi cái môn đó ở trường tôi như thế - đã xuất hiện sự trừng phạt Babilonia, ách nô lệ đối với những người Ixraen hoặc gọi là người Do Thái, sự tích vượt Biển Đỏ, những chiếc kèn của Josue (lãnh tụ của người Do Thái - ND) và sự sụp đổ của những ngọn tháp ở Jerico, Samson và sức mạnh như thần của ông có thể dùng tay không đập nát một ngôi đền, Luật bảng đồng$^{(*)}$ con bê vàng biến thành một đồ vật trang trí. Hình ảnh sau cùng này tôi đã dùng nó trong bài “Lịch sử sẽ minh chứng cho tôi” để diễn tả một tư tưởng xã hội chủ nghĩa: “Chúng ta không tin ở những con bê vàng”. Đó là khi tôi tự bào chữa cho mình trong phiên tòa sau cuộc tấn công vào doanh trại Moncada ở Santiago de Cuba. Việc này xảy ra vào năm 1953, còn giờ đây, chúng ta đang nói tới năm 1936. Khi ấy tôi khoảng 10 tuổi.

Nhưng cuộc chiến tranh Abisinia xảy ra trước cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, lúc đó ông còn trẻ hơn nữa phải không?

Anh nói đúng, chiến tranh Abisinia xảy ra trước một chút. Hình như lúc ấy tôi học lớp hai tại trường La Salle. Có lẽ lúc đó tôi chín tuổi. Tôi kể cho anh nghe rằng việc sưu tầm bưu ảnh đã giúp tôi, nhờ một cuộc đổi chác, có được một album tuyệt vời của Napoleón, mà nhà sử học của thành phố, như mọi người đều biết, và có lẽ tôi đã kể cho ông ấy câu chuyện của tôi về cuốn album, đã tìm thấy nó hoặc một album giống hệt như thế. Màu sắc đã ngả vàng của các tấm bưu ảnh làm cho tôi tin rằng đó chính là tập album mà tôi đã từng lưu giữ một vài năm và rất vui sướng được ngắm nghía hình ảnh của những trận đánh nổi tiếng. Ví dụ, ở Arcole, khi Napoleón, trong một khoảnh khắc quyết định, đã cầm lá cờ chạy qua cầu và hô lớn: “Hãy tiến theo vị tướng của các bạn!”. Điều đó gây ấn tượng đối với mọi chàng trai. Và sau đó, là Austerlitz và các trận đánh khác. Những điển tích chính trong cuộc đời của Napoleón được thể hiện trong đó bằng những hình ảnh. Tất nhiên là tôi rất thích thú và có cảm tình với vị thủ lĩnh đó, như đã từng có cảm tình với Anibal, Alejandro và những nhân vật khác nữa mà các sách sử chính yếu không ngớt lời ca tụng. Khi ấy, đã từng mong muốn là giá như Anibal đã có thể chiếm được Roma, có lẽ là do khâm phục sự táo bạo của ông đã vượt qua dãy núi Alpes cùng Đoàn voi trận, hoặc có lẽ tôi thích đứng về phía kẻ yếu hơn. Tôi cũng thích những người Spartak và cuộc phòng thủ tuyến đường Termopilas với chỉ 300 người của họ. Cuối cùng, giờ đây tôi có thể tự an ủi với ý nghĩ rằng cuốn album về Napoleón còn hay hơn nhiều một bộ phim về miền Tây.

Chắc là ông thích các thủ lĩnh chiến binh?

Mọi cậu bé đều thích họ. Tôi xin nói, bắt đầu từ Lịch sử Thần thánh Trong Kinh Cựu ước đầy những cuộc chiến tranh và các điển tích kỳ lạ: cái hòm của Noé, trận đại hồng thủy, 40 ngày mưa tầm tã. Thậm chí trong cuốn “Sách sáng chế” (Génesis) sau nạn đại hồng thủy, Noé đã trồng nho, từ quả nho sản xuất ra rượu vang, và ông đã uống hơi quá 

chén; một trong những người con của ông đã chế giễu cha và Noé đã nguyền rủa anh ta, xử tội anh ta trở thành người da đen!\bm{^{(7)}} Đó là một trong những điều có trong Kinh thánh, mà tôi nghĩ rằng một ngày nào đó, chính nhà thờ sẽ phải sửa sai, vì cho rằng trở thành người da đen là sự trừng phạt của Thượng đế. Xem ra cũng như coi việc làm phụ nữ là một cái tội, vì bị quy trách nhiệm cho họ là tội lỗi ban đầu.

Ông có yêu cầu Nhà thờ Cơ đốc giáo sửa sai điều đó không?

Thực sự là tôi không đề nghị họ điều chỉnh hay thay đổi trong các vấn đề về đức tin. Nhưng Giáo hoàng Giăng Pôn II (Jean Paul II) từng là người dũng cảm, kiên quyết, đã nói rằng thuyết tiến hóa không phải là không thể dung hòa với học thuyết của Đấng Sáng tạo.

Tôi đã từng nói chuyện với nhiều Hồng y và Tổng giám mục về đề tài này. Có hai điểm thế này. Tôi nghĩ rằng, với sự sáng suốt thường có của một thể chế đã tồn tại hai nghìn năm, có thể đóng góp cho tư tưởng về sự bình đẳng của phụ nữ, bằng cách đừng đổ tội cho họ về bao nỗi thống khổ hiện có trên thế giới này. Và rằng trở thành người da đen không phải là một sự trừng phạt của Thượng đế chỉ vì một người con của Noé đã chế giễu một chút cha mình.

Lúc đầu, ông cũng nổi loạn chống lại cha mình, có phải không?

Tôi không nổi loạn chống cha tôi; khó lắm, vì ông là người có tấm lòng nhân hậu. Tôi chỉ nổi loạn chống quyền lực.

Không khuất phục quyền lực?

Điều đó có tiền đề của nó. Nó không sinh ra khi tôi 10 hoặc 12 tuổi. Tôi bắt đầu có tính quật khởi từ trước đó một vài năm, lúc tôi khoảng 6 hoặc 7 tuổi.

Còn những ký ức gì nữa in dấu đậm trong thời thơ ấu của ông ở Birán?

Tôi nhớ nhiều thứ lắm. Và có một số điều chắc là đã tác động đến tôi. Nhưng, ví dụ như cái chết thì không ghi dấu ấn trong tuổi thơ ấu của tôi, mặc dù tôi bị mất một người dì là bà Antonia, bà đã chết khi sinh 

con, lúc tôi chưa đầy ba tuổi. Tôi vẫn nhớ nỗi đau buồn của gia đình và không khí tang thương lúc ấy trong những người lớn tuổi, đó là người em của mẹ tôi, kết hôn với một người Tây Ban Nha, làm việc cho cha tôi ở Birán, quản lý một cánh đồng mía. Mọi người gọi ông là Soto. Tôi nhớ là chúng tôi đã đi bộ theo một con đường đất xuyên qua cánh đồng mía, với những người phụ nữ vừa đi vừa khóc, đến một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ. Tôi nhớ việc đó chắc là không gây cho tôi nhiều ấn tượng lắm, vì tôi không biết chuyện gì xảy ra, tôi không hề có chút ý thức gì về cái chết.

Tôi cũng nhớ lần đầu tiên nhìn thấy một đầu máy xe lửa. Mọi thứ trong cái đầu máy hơi nước đều gây ấn tượng, những bánh xe, tiếng động của nó, sức mạnh của nó, tiếng còi của nó. Tàu chạy đến trạm bẻ ghi hoặc trạm bốc hàng gần đó để nhận mía đưa về nhà máy. Tôi có cảm giác nó như một con quái vật khổng lồ.

Khi tôi là học sinh tiểu học, khoảng 7 hoặc 8 tuổi, tôi có nghe nói về chuyến đi của Barberán và Collar⁽⁸⁾. Ở đó, ở Birán, họ khẳng định "Barberán và Collar đã bay qua đây"; đó là hai phi công Tây Ban Nha đã bay qua Đại Tây Dương và tiếp tục bay tới Mêhicô. Nhưng sau đó, không có tin tức gì thêm nữa về Barberán và Collar. Hiện người ta vẫn còn tranh luận về nơi máy bay của họ bị rơi, có phải ở vùng biển giữa Pinar del Río và Mêhicô, hay ở bán đảo Yucatán, hay một nơi nào khác. Nhưng không bao giờ còn được biết thêm về họ, những người đã thực hiện kỳ tích bay qua Đại Tây Dương trên một chiếc máy bay cánh quạt nhỏ, khi mà ngành hàng không mới chỉ bắt đầu. Họ đã chết trên chiếc máy bay nhỏ chứa đầy bình xăng ấy, vì đó là cách duy nhất mà họ có thể làm trong thời kỳ đó; họ đã cất cánh, đã thực hiện một hành động thực sự quả cảm, là bay vượt Đại Tây Dương. Họ đã xuất phát từ Tây Ban Nha và đến Cuba; từ đây, họ lại cất cánh, với ý đồ bay đến Mêhicô, nhưng đã không bao giờ đến nơi.

Tôi đã thấy những trận bão từ khi còn nhỏ. Các trận cuồng phong, các vòi rồng, các trận bão với những cơn gió quét tốc độ cao. Thậm chí tôi đã cảm nhận được động đất một lần khi lên bốn hoặc năm tuổi⁽⁹⁾.

Ngôi nhà của chúng tôi rung lên, kêu răng rắc mọi phía. Tất cả những hiện tượng thiên nhiên ấy đã phần nào in dấu đậm trong tôi.

Theo ông thì còn điều gì khác nữa đã ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của ông?

Một sự ưu ái và một sự may mắn. Tôi là con của một điền chủ chứ không phải là cháu. Nếu tôi là cháu, thì tôi đã sinh ra trong một tầng lớp quý tộc và tất cả bạn bè của tôi, tất cả học vấn của tôi, sẽ được đánh dấu bởi ý thức coi mình ưu việt hơn những người khác. Nơi tôi sinh ra tất cả đều nghèo, các con cái của các nông phu và nông dân rất nghèo. Chính gia đình tôi, về phía mẹ tôi, cũng nghèo và một số anh em họ của cha tôi đến từ Galicia cũng nghèo, cả gia đình cha tôi ở Galicia cũng rất nghèo.

Chắc chắn điều ảnh hưởng nhất đến tôi, là đã được sống cạnh những người nghèo hèn nhất ở nơi tôi sinh ra. Tôi nhớ đến những người thất nghiệp mù chữ xếp hàng cạnh những cánh đồng mía, mà không ai mang đến cho họ một hớp nước, không một miếng ăn sáng, hay một miếng ăn trưa, cũng chẳng có chỗ ở, chẳng có phương tiện đi lại. Tôi cũng không thể quên được những cậu bé đi chân đất. Tất cả những người bạn mà tôi đã chơi với họ ở Birán, với những người mà tôi từng cùng chạy nhảy khắp mọi nơi, là những người nghèo nhất, thậm chí tôi đã mang đến cho một vài người trong số họ vào giờ ăn trưa những lon đầy thức ăn ngon lành, không phải là thức ăn thừa của nhà. Tôi đã từng đi với họ ra sông, cưỡi ngựa hoặc chạy bộ khắp mọi nơi, chơi ném đá, săn bắn chim, bằng một dụng cụ đáng lên án, nhưng đó là thói quen, là những chiếc ná bắn sỏi, đá. Ngược lại, ở Santiago và sau đó ở La Habana, tôi được học ở các trường dành cho những người thuộc tầng lớp được ưu đãi, nơi ấy, đúng là có con cái của những điền chủ.

Vậy ông sống cùng với họ?

Họ là con cái của người có tiền. Và tất nhiên ở đó, tôi kết bạn với họ, chơi với họ, luyện tập thể thao với họ và nhiều thứ khác nữa. Nhưng tôi không cùng sống với họ ở các khu phố nhà giàu.

Ở đó, chúng tôi có những chuyện khác trong đầu, và chủ yếu là thể thao hoặc các lớp học, các cuộc đi chơi dã ngoại và nhiều thứ khác nữa. Tôi có thói quen chơi thể thao và leo núi, hai sở thích tự phát. Ông chủ của trường La Salle còn có một đồn điền ở Santiago, ngay trên bán đảo mà ngày nay có một nhà máy lọc dầu, gọi là Renté. Ở đó còn có một bãi tắm. Người ta phải cắm những cái cọc bằng thân cây cọ để khoanh vùng nước, vì đó là một vịnh biển và có nguy cơ cá mập, nguy cơ là có thực, dù không nhiều lắm. Còn có cầu nhảy, cấp một, cấp hai và cấp ba. Lẽ ra tôi phải thành vận động viên nhào lộn vì tôi nhớ rằng khi đến đấy lần đầu, tôi đã nhảy từ bậc nhún cao nhất, trong một cuộc thách đố giữa bọn thiếu niên với nhau: Ai nhảy nào? - Pầm, tôi nhảy luôn, tất nhiên, nhảy chân xuống trước, rất may là tôi không nhảy đâm đầu xuống; cái cầu nhảy khá cao, nhưng tôi đã nhảy mà chẳng cần suy nghĩ nhiều.

Lúc đó, ông đã biết bơi chưa?

Tôi đã học bơi không biết từ bao giờ trong các vũng suối và sông ở Birán, cùng với chính những người đã tham gia vào các cuộc phiêu lưu với chúng tôi.

Với những người bạn bình dị và nghèo của ông.

Đúng, với tất cả những người bạn ấy, những bạn thời niên thiếu và những người bạn khác của tôi. Tôi không hề tiêm nhiễm nền văn hóa tư sản. Cha tôi chỉ là một điền chủ lẻ loi trên thực tế. Cha mẹ tôi ít khi đi thăm hay tiếp đón ai. Các cụ không có thứ văn hóa và tập quán của một gia đình thuộc giai cấp giàu có. Các cụ suốt ngày làm việc và chúng tôi có mối quan hệ đặc biệt với những người sống ở đó, ở Birán.

Trong số các bạn nhỏ mà ông chơi với họ có ai là người da đen không?

Ở nhà, không bao giờ mọi người nói với tôi: “Cậu đừng đàn đúm với người này hay người kia!”. Không khi nào. Tôi hay tới chơi ở túp lều của những người Haiti, vì thế, nhiều khi còn bị người nhà trách mắng. Không phải vì vấn đề xã hội mà vì lý do sức khỏe, vì tôi ăn ngô nướng 

cùng với họ. Mọi người dọa đưa tôi đi Guanajay, là một trại cải tạo ở phía tây La Habana.

Dành cho các trẻ em bướng bỉnh phải không?

Mọi người trong nhà nói với tôi: “Chúng tao sẽ đưa mày đi Guanajay vì đã ăn ngô nướng ở nhà những người Haiti!”. Nhiều lần mọi người dọa tôi vì lý do đó và các lý do khác. Khi tôi bắt đầu hiểu sự việc, trong tiềm thức của tôi có một trường học tốt nhất: thời thơ ấu mà tôi sống ở nông thôn và nơi tôi đã sống. Nông thôn là tự do.

Sau đó, vì là con nhà giàu, tôi trở thành nạn nhân của sự bóc lột.

Nạn nhân của sự bóc lột là sao?

Nạn nhân của sự bóc lột.

Theo nghĩa nào?

Rất đơn giản, để tôi kể anh nghe. Lớp mẫu giáo của tôi là một trường công lập ở Birán; chị và anh tôi là Angelita và Ramón học ở đó, còn tôi tuy lúc đó chưa đủ tuổi, nhưng cha mẹ đã gửi tôi vào trường đó và tôi được đặt ngồi ở bàn đầu. Tôi vẫn còn nhớ ngày tháng. Tôi không biết mình đã học viết thế nào, mà vẫn có thể vừa nhìn các học trò khác khi bị đặt ngồi ngay ở đầu dãy bàn. Khi ấy, tôi nhớ, có lẽ là vào năm 1930.

Lúc đó ông mới bốn tuổi?

Tôi bốn tuổi. Tôi đã học đọc và vừa viết nguệch ngoạc vừa nhìn những học trò khác, và nhìn cô giáo với viên phấn viết trên bảng, và giở những trò nghịch ngợm ở đó, đúng tính cách của con điền chủ. Cô giáo thường xuyên đến nhà, dùng bữa với gia đình tôi, và ở trường cô cũng phạt học trò, thỉnh thoảng một cú đánh bằng thước kẻ. Tôi nhớ như vậy. Đôi khi cô bắt học trò quỳ gối, và đặt lên hai bàn tay xòe ra của anh hai quả tạ nhỏ. Cô không bắt chúng tôi chịu hình phạt trong ba giờ, nhưng, nghe này, chỉ cần một vài giây, và còn tệ hại hơn nữa, là đôi khi còn đặt cả những hạt ngô.

Ở dưới đầu gối à?

Đúng vậy. Tôi đã biết các kiểu tra tấn ở trường học, mặc dù không phải chuyện hàng ngày và cũng không phải là thường xuyên. Nói đúng hơn, đó là phương pháp để dọa chúng tôi.

Các thứ đó gọi đúng tên là tra tấn.

Tôi đã là đứa trẻ thật bướng bỉnh rồi, bởi vì, đúng là có những chuyện dài về một số sự việc. Nếu anh muốn, sau này tôi sẽ kể với anh đôi chút, tôi sẽ kể cho anh nghe những việc đã giúp tôi thành người quật khởi. Tôi đã thấy sự cần thiết phải giải quyết các vấn đề từ rất sớm, những vấn đề ấy giúp tôi có đôi chút ý thức về sự bất công và về những gì xảy ra trong thế giới đó. Nhưng chúng ta không nói về chuyện đó và nó cũng không đáng để anh quan tâm.

Tôi có quan tâm.

Khi nào đến lúc, nếu anh muốn, tôi sẽ kể cho anh nghe. Nhưng tôi nêu thêm với anh những yếu tố này, mà theo tôi, chúng ta đã đặt ra: điều gì đã làm tôi trở thành người cách mạng, những yếu tố nào đã ảnh hưởng đến cuộc đời tôi, bất kể nguồn gốc xã hội của tôi là con điền chủ, và mặc dù mọi đứa bé đều ích kỷ và mọi đứa bé cũng đều kiêu căng, và chúng tiếp thu một chút ý thức về địa vị xã hội của mình.

Ông từng là đứa trẻ nhà giàu duy nhất dưới mái trường nhỏ ở Birán?

Người duy nhất, không kể một người chị và một người anh lớn hơn tôi một chút. Ở đó, ngay đến người thuộc hạng trung lưu, cũng không có ai là chủ một cửa hàng. Cha mẹ họ đều là những người làm công nhật và hãn hữu lắm, mới làm chủ vài mảnh đất nhỏ. Tất cả trẻ con đều là con cái của người rất, rất nghèo.

Có phải vì thế cha mẹ ông đã quyết định gửi ông đi Santiago, để ông làm quen với những trẻ con thuộc tầng lớp xã hội khác?

Không, tôi không nghĩ rằng lý do ấy đã có, dù chỉ là thoáng qua trong 

tâm trí các cụ. Cha mẹ tôi đã làm gì với tôi? Lúc tôi lên sáu tuổi, cha mẹ tôi gửi tôi đi Santiago de Cuba, với một câu chuyện do cô giáo nghĩ rằng tôi “là một cậu bé rất thông minh”. Trước đó, cha mẹ tôi đã quyết định để cô giáo của trường học ở Birán, tên là Eufrasia Feliú, đưa chị tôi là Angelita hơn tôi ba năm bốn tháng về nhà cô ở Santiago. Tôi sáu tuổi, chị tôi khoảng chín hoặc 10 tuổi. Lúc ấy người ta đưa chị tôi đi và mang luôn cả tôi theo: nên đưa cậu bé đi Santiago để việc giáo dục được tốt hơn tại nhà cô giáo. Khuất phục bởi các lý do đó và cũng đầy hiếu kỳ, tôi ra đi không một lời kêu ca.

Santiago đã gây ấn tượng gì cho ông, một người đến từ nông thôn?

Santiago de Cuba khi ấy là một thành phố nhỏ, so với giai đoạn hiện nay, nhưng đã gây cho tôi nhiều ấn tượng, tôi thấy nó rất lớn. Vì thế nó đã gây cho tôi ấn tượng rất mạnh mẽ, giống như ấn tượng mà tôi cảm nhận lúc tôi 16 tuổi, lần đầu tiên nhìn thấy La Habana, thủ đô của nước Cộng hòa.

Ở đây, ở La Habana, tôi đã thấy những ngôi nhà lớn, những tòa lầu bốn hoặc năm tầng mà tôi cảm thấy rất khổng lồ. Còn thành phố mà tôi đã quen, Santiago, nói chung chỉ các nhà thấp, nhỏ, các tòa lầu vài tầng chỉ là ngoại lệ. Vì thế, khi thấy La Habana, tôi bị ấn tượng mạnh. Nhưng phải nói thêm rằng ở Santiago, khi ấy tôi sáu tuổi, lần đầu tiên, tôi nhìn thấy biển khơi. Tôi đến từ nông thôn, từ vùng núi, từ đất liền sâu trong nội địa. Và khi lần đầu tiên, nhìn thấy biển khơi ở cửa vịnh Santiago, tôi ngạc nhiên lắm.

Ngôi nhà ông sống ở Santiago như thế nào?

Đó là một ngôi nhà bằng gỗ, trên đồi Intendente, ở khu phố El Tivolí, một khu phố tương đối nghèo... Một ngôi nhà hẹp, tối tăm, ẩm thấp, bé nhỏ, một phòng nhỏ với một cây đàn piano, hai phòng ở, một phòng vệ sinh và một ban công nhìn ra phong cảnh rất đẹp của dãy núi Sierra Maestra và cũng ngay gần đó là một phần của vịnh Santiago.

Ngôi nhà nhỏ, tường bằng gỗ ghép và trần lợp ngói đã vỡ và đã phai màu, phía trước là một bãi đất không có cây cối. Bên cạnh là một 

dãy nhà một phòng. Tiếp đó, ở dãy nhà khác có một cửa hàng tạp phẩm, ở đó có bán kẹo dừa xay nhỏ, tẩm đường thô. Phía trước, ở phía bên kia của bãi đất trống, tôi nhớ, có một ngôi nhà lớn của ông Yidi, một người Moro⁽*⁾ rất giàu có. Và cạnh đấy là trường trung học. Tôi đã sống ở đó những ngày ngặt nghèo, tôi nhớ là trường trung học ấy bị binh lính chiếm đóng, vì tất cả học sinh đều chống lại Machado⁽¹⁰⁾. Tôi nhớ một cảnh tượng mà tôi đã nhìn thấy ở trường học bị chiếm đóng ấy: binh lính đã dùng báng súng đánh một người dân, có lẽ vì người ấy đã nói gì đó với chúng khi đi qua đấy. Một số cảnh tượng như vậy đến giờ tôi còn nhớ rõ, vì chúng tôi sống ngay đối diện trường học và nhìn thấy các cảnh ấy.

Không khí lúc đó rất căng thẳng, binh lính bắt giữ những khách vãng lai. Chúng đã bắt giam người thợ cơ khí ở Birán - tên là Antonio - vào thời gian đó. Sau đấy, tôi còn nghe nói ông ấy bị bắt vì là cộng sản. Tôi nhớ rằng vợ ông đã đến thăm ông trong trại giam, bà mang tôi đi theo, lúc ấy tôi còn nhỏ lắm. Trại giam ở cuối phố Alameda de Santiago, một nơi u ám, tối tăm, với các bức tường hoen ố! Tôi thường rùng mình mỗi khi nhớ lại những tên cai tù, những chấn song sắt, ánh mắt của những người tù...

Tại ngôi nhà bé nhỏ mà tôi đã sống khi đến Santiago, mái bị thủng nên khi trời mưa, cả nhà đều ướt sũng. Mưa ở trong nhà nhiều hơn ở bên ngoài. Nhà rất ẩm ướt. Người ta đã đưa chị tôi và tôi đến ở đó. Cha của cô giáo ở trong một buồng nhỏ với một cái giường ọp ẹp, tên là Néstor, và cái phòng còn lại dành cho một người chị em của cô tên là Belén, cô giáo dạy đàn piano, một người tốt bụng, nhưng chẳng có một học trò nào.

Khi đó có điện chưa?

Có, đã có điện nhưng họ không dùng nhiều. Họ vẫn thắp sáng cả bằng đèn dầu, vì theo tôi nghĩ, như thế rẻ tiền hơn.

Có bao nhiêu người sống trong ngôi nhà ấy?

Lúc đầu có ba chị em, tôi cho rằng họ là con gái của một cặp vợ chồng người Haiti, tôi không biết là họ học ở Pháp hay ở Haiti. Họ là những người lai. Một người là cô giáo của tôi, người khác là cô giáo dạy piano và cô thứ ba là bác sĩ, đã chết cách đó không lâu. Còn lại hai chị em sống với người cha là ông Néstor, góa vợ. Ngoài ra, trong nhà còn có chị tôi và tôi, tức là năm người, kể cả cô giáo, người tiếp tục lên lớp ở Birán trong năm học, nhưng về ở đây trong thời gian nghỉ hè. Ngoài ra, còn có một chị nông dân đặc sệt, một cô gái quê mùa tên là Esmérida, đến sau đó một thời gian làm người giúp việc trong ngôi nhà nghèo nàn và rách nát đó. Họ không trả công xá gì cho chị ấy. Chúng tôi thành sáu người tất cả. Và sau đó, người cuối cùng, anh Ramón của tôi, người mà tôi thuyết phục ở lại đó, khi anh ấy đến Santiago, thế là thành bảy người, nếu có cô giáo ở nhà. Trên thực tế, chúng tôi sống trong một căn nhà chật chội.

Đó là ở vào thời kỳ nào?

Vào thời kỳ dưới chế độ độc tài Machado. Nạn đói xảy ra ở nhiều nơi trong nước. Chính nạn đói là nguyên nhân chủ yếu làm sụp đổ chế độ Machado; ngoài cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra năm 1929, điều tồi tệ hơn là nước Mỹ căn cứ vào một hiệp định thương mại ký kết với Cuba từ những năm mới thành lập nước cộng hòa phụ thuộc, theo đó Mỹ cấm Cuba sản xuất nhiều hàng hóa và ép chúng tôi phải nhập khẩu các mặt hàng bị cấm sản xuất đó, mặc dù Mỹ vẫn thu mua đường của Cuba, song do cuộc khủng hoảng kinh tế nói trên, nên khi xuất khẩu đường Mỹ ép Cuba phải trả thuế quan do Mỹ quy định. Như vậy, Mỹ đã hạn chế lượng đường xuất khẩu làm cho mặt hàng này giảm giá tới mức thấp nhất. Do vậy, nền kinh tế Cuba càng trì trệ, nạn đói lan rộng khắp nước.

Đó là một thời kỳ khủng hoảng kinh tế và cũng là thời kỳ đàn áp chính trị.

Machado đã bắt đầu nhiệm kỳ của mình với một sự ủng hộ nhất định 

của nhân dân nhờ các biện pháp có tính quốc gia chủ nghĩa của ông ta, và ông này đã xây dựng được các công trình và một số nhà máy, với ý đồ phát triển nền công nghiệp, nhưng ông ta là người độc đoán, và không bao lâu, chế độ của ông ta trở thành một chế độ đẫm máu. Chế độ này đã gặp phải sự chống đối của sinh viên. Đặc biệt là cuộc phản kháng của Julio Antonio Mella⁽¹¹⁾, người sáng lập ra Liên đoàn Sinh viên đại học và Đảng Cộng sản, ở tuổi 20 hoặc 21.

Ông là nhân vật biểu tượng của giới sinh viên, của những người lao động và nhân dân. Ông bị ám sát ở Mêhicô theo lệnh của Machado.

Mella là một thanh niên đặc biệt tài năng và trưởng thành sớm, một trong những nhân vật chính tỏa sáng sau Martí. Ông đã từng nói đến một trường “Đại học công nhân”, ý tưởng tuyệt vời. Các sinh viên đã kéo đến trường đại học để nghe ông nói về lịch sử và những người anh hùng. Đúng là trước đó, vào năm 1917, đã nổ ra cuộc cách mạng bôn-sê-vích nổi tiếng và chắc chắn rằng ông ấy đã lập ra Đảng Cộng sản, dựa trên chủ nghĩa cấp tiến của cuộc cách mạng ấy và những nguyên tắc đã thúc đẩy cuộc cách mạng đó. Mella là người theo tư tưởng của Martí và ủng hộ kiên định cuộc cách mạng bôn-sê-vích. Điều đó chắc chắn đã ảnh hưởng đến việc ông cùng với một người mác-xít, đã từng là bạn của Martí, tên là Carlos Baliño, sáng lập ra Đảng Cộng sản đầu tiên ở Cuba.

Machado bị lật đổ vào năm 1933, có đúng không?

Đúng. Machado bị lật đổ trong cuộc đấu tranh năm 1933, vào tháng 8, một tháng sau, tháng 9, đã diễn ra “cuộc nổi dậy của các trung sĩ”. Khi ấy tôi vừa tròn bảy tuổi. Các viên trung sĩ nổi lên với vòng hào quang, vì đã khởi nghĩa chống lại các sĩ quan vốn là đồng lõa của Machado. Khi ấy, mọi người rời bỏ hoạt động bí mật để ra công khai. Trong số các tổ chức chống Machado khác nhau có một số thuộc cánh tả, số khác theo các tư tưởng hữu khuynh, trong số đó, thậm chí có một tổ chức theo lý thuyết phát xít của Mussolini.

Trong giới đại học, có các sinh viên, với Ban chỉ đạo cách mạng của họ, đã từng đấu tranh chống chế độ độc tài và đã có các nạn nhân, kể 

cả các giáo sư nổi tiếng. Xuất hiện từ một trong những phong trào có tính chiến đấu nhất, trong trường hợp này là phong trào của các sinh viên đại học, một vị giáo sư môn sinh lý học tên là Ramón Grau San Martín, người đã được đề cử và cuối cùng được bổ nhiệm làm Tổng thống của Cuba. Trong chính phủ đó, chính phủ ra đời sau Phong trào 4 tháng 9, ba tuần sau sự sụp đổ của Machado, có Bộ trưởng Nội vụ Antonio Guiteras⁽¹²⁾, một người trẻ tuổi rất dũng cảm và táo bạo; đã từng đánh chiếm trại lính ở San Luis, tỉnh Oriente, và tiến hành đấu tranh vũ trang quyết liệt chống Machado.

Antonio Guiteras.

Guiteras áp đặt việc tuân thủ pháp luật, quốc hữu hóa công ty điện lực và các công ty khác của Mỹ, việc chưa từng có ở Cuba, và là người thúc đẩy ban hành các đạo luật cho phép hoạt động công đoàn, giới hạn ngày làm việc xuống 8 giờ và hàng loạt các biện pháp tiến bộ đặc trưng cho chính sách của chính phủ đó.

Một trong những biện pháp ấy có một động cơ có thể giải thích được, nhưng bản thân nó không hoàn toàn đúng đắn. Đó là Luật quốc hữu hóa lao động, nên đã dẫn đến - mặc dù đó không phải là mục tiêu của nó - việc trục xuất tàn bạo khỏi đất nước một số lớn người di cư Haiti. Chính phủ này, trong đó, vị Bộ trưởng mạnh mẽ và kiên quyết nhất là Guiteras, đã ban bố đạo luật đó để bảo vệ những người lao động Cuba trước việc những nhà kinh doanh Tây Ban Nha gạt bỏ họ để dành ưu tiên việc làm cho người nhà của chúng từ Tây Ban Nha sang.

Chính phủ ấy, lúc đầu là chính thể gồm năm người hùng trước khi nhượng chức tổng thống cho giáo sư Grau San Martín, tương ứng với thời gian ba tháng mà họ thông qua một loạt các đạo luật và biện pháp có lợi cho nhân dân Cuba; nhưng bọn yanky, thông qua Đại sứ của họ là Benjamin Sumner Welles, đã bắt đầu nhằm tới Batista, mặc dù Tổng thống Mỹ lúc đó không ai khác là ngài Franklin Delano Roosevelt, đang thúc đẩy, một “nền ngoại giao láng giềng thân thiện” với Mỹ Latinh.

Bất kể tính chất và bản chất của hệ thống chính trị, đất nước đó, sau Anh và Pháp, là một cường quốc đế quốc mạnh và đang lên, bị nhấn chìm giữa cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã giáng đòn khủng khiếp vào nhân dân Mỹ. Ông Roosevelt, theo tôi, là một trong những chính khách tốt nhất của nước láng giềng phương Bắc của chúng tôi. Một con người mà tôi, ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường và những năm sau đó, đã từng có cảm tình. Ông là người tàn tật. Giọng nói ấm áp khi đọc các bài diễn văn tỏ ra rất hấp dẫn.

Roosevelt, có lẽ do khâm phục tinh thần và tính chiến đấu của nhân dân Cuba và mong muốn có một mối quan hệ tốt hơn với Mỹ Latinh, và có lẽ đã nhìn thấy trước tương lai không chắc chắn của thế giới với việc Hítle lên cầm quyền, đã hủy bỏ Điều luật bổ sung Platt⁽¹³⁾ và tán thành một Hiệp ước gọi là Hay-Quesada, theo đó, Mỹ hoàn trả cho Cuba đảo Thông - nay là huyện đảo đặc biệt Thanh niên - đã từng bị chiếm đóng với số phận bấp bênh.

Có phải đảo Thông đã bị Mỹ chiếm đóng quân sự?

Người Mỹ đã chiếm đóng đảo Thông từ năm 1898.

Đảo này không phải do Chính phủ nước Cộng hòa Cuba khi đó quản lý à?

Không. Đó là đất chiếm hữu của Mỹ từ những năm có Điều luật bổ sung Platt. Sau này được Cuba thu hồi lại. Còn Guantánamo vẫn thuộc Mỹ. Điều luật bổ sung Platt, theo quy định hợp hiến cho phép Mỹ có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của Cuba.

Điều luật bổ sung này được ký năm 1902 à?

Được áp đặt năm 1901 và bị hủy bỏ năm 1934, tôi không nhớ ngày, tháng chính xác.

Chính phủ của Guiteras chỉ tồn tại khoảng ba tháng. Khi đó, vào đầu năm 1934, Fulgencio Batista đã gạt họ khỏi chính quyền một cách đơn giản.

Antonio Guiteras bị sát hại năm 1935, khi tìm cách sang Mêhicô nhằm chuẩn bị cuộc đấu tranh chống Batista, giống như Mella đã làm trước đó và chúng tôi làm sau này.

Trong thời kỳ Chính phủ Cách mạng năm 1933 đã diễn ra một số trận đánh, một trong số đó xảy ra ở Khách sạn quốc gia, ở thủ đô, nơi có một nhóm sĩ quan quân đội ủng hộ chính phủ bị lật đổ của Machado lẩn trốn trong đó, có một số được đào tạo tốt và là những xạ thủ giỏi. Cuối cùng, nhóm sĩ quan này cũng bị binh lính và các trung sĩ đánh bật, sau khi họ đã chiến đấu quyết liệt.

Đồng thời còn có các thành viên của ABC, một nhóm chống Machado, nhóm này theo tư tưởng phát xít, đã nổi dậy chiếm các đồn cảnh sát, tiến hành các trận đánh và cuộc đọ súng cuối cùng diễn ra tại pháo đài Atarés cũ. Tất cả các hoạt động đó nhằm chống chính phủ tiến bộ và chống các đạo luật của Guiteras.

Batista giành trọn vai trò chỉ huy quân đội. Quân đội đã thuộc về hắn. Sau đó, do sức ép của Đại sứ Mỹ, hắn giải tán chính phủ và cử một tổng thống khác. Batista tự thăng chức lên đại tá; nhiều trung sĩ khác được hắn phong hàm trung úy; không có hàm tướng, một số sĩ quan cấp thấp cũ và tất cả các trung sĩ được Batista cho thăng lên hàm trung úy, đại úy, thiếu tá và trung tá. Tôi nhớ người mang hàm đại tá duy nhất là thủ lĩnh quân đội, Fulgencio Batista. Điều này xảy ra năm 1934. Batista cầm quyền trong bảy năm cho đến khi Quốc hội lập pháp được triệu tập vào năm 1940. Trong suốt thời gian đó, tôi ở Santiago, lúc đầu ở nhà cô giáo, sau đó ở trường La Salle và sau nữa, ở trường Dolores, của giáo phái Dòng Tên. Năm 1942, tôi lên La Habana vào học ở trường Belén, cũng của giáo phái Dòng Tên, như tôi đã giải thích, trường này nổi tiếng là tốt nhất của cả nước. Tôi kết thúc bậc tú tài vào năm 1945.

Đó là những gì mà tôi có thể kể với anh về cuộc đời của tôi trong những năm tháng đầu tiên.

 

Theo Một trăm giờ với Fidel