Quảng cáo #38

Việt Nam - Cuba: Tầm nhìn chiến lược và khát vọng đồng hành trong kỷ nguyên mới

Lịch sử ngoại giao thế giới, mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba luôn được xem là một biểu tượng mẫu mực, vượt qua mọi giới hạn địa lý và những biến động phức tạp của thời cuộc. Hiện nay, khi trật tự thế giới đang dịch chuyển mạnh mẽ hướng tới đa cực và đa trung tâm, sự gắn kết giữa Hà Nội và La Habana không chỉ dừng lại ở tình đoàn kết anh em truyền thống mà đã nâng tầm thành một mối quan hệ hỡ nghị đặc biệt, thực chất và có tính bổ trợ cao.

Tổng Bí thư Tô Lâm và Bí thư thứ Nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cuba Miguel Díaz-Canel Bermúdez chụp ảnh chung. Ảnh: QĐND

Sự tin cậy chính trị giữa hai quốc gia đã trở thành hòn đá tảng vững chắc, một hằng số trong chính sách đối ngoại của mỗi nước. Những thông điệp phát ra từ các Thông cáo chung và hệ thống văn kiện ký kết trong chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Cuba vào tháng 9 năm 2024 và chuyến thăm đáp lễ của Bí thư Thứ nhất, Chủ tịch nước Cuba Miguel Díaz-Canel tới Việt Nam vào tháng 9 năm 2025 đã khẳng định một quyết tâm chính trị sắt đá. Đó là việc biến sự tin cậy  thành động lực mạnh mẽ để thúc đẩy công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ở mỗi quốc gia, xác lập một tư duy quản trị ngoại giao hiện đại, nơi lòng tin chính trị trở thành đòn bẩy cho sự phát triển bền vững, cùng nhau vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình thịnh vượng của cả hai dân tộc.

Trụ cột chính trị và sự đồng điệu tầm nhìn giữa hai Đảng, hai Nhà nước

Sự tin cậy chính trị giữa Việt Nam và Cuba được xác định là hòn đá tảng vững chắc nhất, định hình cho mọi hoạt động hợp tác song phương thông qua các văn kiện pháp lý mang tính dẫn dắt dài hạn. Hiện nay, mối quan hệ giữa hai Đảng vẫn giữ vai trò hạt nhân, tạo ra một hành lang an toàn và thông suốt cho các chương trình nghị sự từ trung ương đến địa phương.

Tiến trình củng cố và thắt chặt mối quan hệ chính trị đặc biệt này được chứng thực rõ nét qua hệ thống các văn kiện, Tuyên bố chung ký kết xuyên suốt các thời kỳ lịch sử. Ngay từ những năm cuối thế kỷ XX, trong Tuyên bố chung ngày 14 tháng 7 năm 1999 nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, hai bên đã khẳng định: "Quan hệ đoàn kết hữu nghị, hợp tác, ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba ngày càng được củng cố và phát triển".

Đồng thời, văn kiện năm 1999 cũng nêu rõ quyết tâm: "Làm hết sức mình nhằm củng cố và tăng cường hơn nữa quan hệ đoàn kết hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, tin cậy lẫn nhau, hướng tới thế kỷ XXI, trên cơ sở Hiệp ước hữu nghị và hợp tác năm 1982 và các văn kiện chung khác đã được ký kết giữa hai nước".

Đến năm 2007, trong chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa Cuba của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Tuyên bố chung Việt Nam - Cuba một lần nữa tái khẳng định những tình cảm sâu sắc của quan hệ hữu nghị đặc biệt và tình đoàn kết anh em giữa hai dân tộc Việt Nam và Cuba đã trở thành biểu tượng của thời đại chúng ta. Hai bên đồng thời bày tỏ quyết tâm: "Tiếp tục phát triển quan hệ hữu nghị, đoàn kết, thủy chung, tin cậy lẫn nhau và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nước, đóng góp tích cực cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội, hợp tác và phát triển ở Đông - Nam Á, Mỹ Latinh và trên thế giới".

Mạch đập lịch sử ấy tiếp tục được nối dài đến Tuyên bố chung ngày 29 tháng 3 năm 2018 trong chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Hai nhà lãnh đạo đã khẳng định mối quan hệ hữu nghị đặc biệt này là "biểu tượng của thời đại và là tài sản vô giá của hai Đảng và nhân dân hai nước", và xác định: "Việc mở rộng, thắt chặt và làm sâu sắc mối quan hệ đoàn kết, anh em và hợp tác toàn diện giữa hai nước nhằm đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước, vào hòa bình, ổn định và phát triển tại mỗi khu vực và trên thế giới".

Sự tiếp nối thế hệ lãnh đạo không làm thay đổi bản chất của tình cảm thủy chung son sắt. Chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Cuba vào tháng 9 năm 2024 và chuyến thăm đáp lễ của Bí thư Thứ nhất, Chủ tịch nước Cuba Miguel Díaz-Canel tới Việt Nam vào tháng 9 năm 2025 đã chứng kiến những cam kết ở tầm cao mới. Hai bên ra Tuyên bố chung nhấn mạnh quan hệ giữa hai Đảng giữ vai trò nền tảng chính trị, định hướng chiến lược cho sự phát triển của quan hệ song phương. Hai nước cam kết tiếp tục kế thừa và phát huy di sản trường tồn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lãnh tụ lịch sử của Cách mạng Cuba Fidel Castro, quyết tâm đưa quan hệ đặc biệt giữa hai nước lên một tầm cao mới, phát triển toàn diện, thực chất, hiệu quả và bền vững hơn.

Sự tin cậy chính trị này được duy trì vững chắc thông qua các cuộc tiếp xúc cấp cao thường xuyên và các cơ chế hợp tác chặt chẽ. Hệ thống cơ chế này bao gồm Thỏa thuận trao đổi và hợp tác giữa hai Đảng giai đoạn 2023-2028, Hội thảo Lý luận giữa hai Đảng, cùng các Biên bản ghi nhớ giữa các cơ quan tham mưu chiến lược như Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương với các cơ quan tương ứng của Cuba. Hai bên đã nhất trí phối hợp tổ chức Hội thảo Lý luận lần thứ VII và Hội thảo khoa học lần thứ III với chủ đề “Fidel Castro - Hồ Chí Minh: tầm nhìn cách mạng” nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Lãnh tụ Cách mạng Cuba Fidel Castro vào năm 2026.

Sự đồng điệu về lý tưởng xã hội chủ nghĩa và khát vọng độc lập, tự chủ đã tạo nên một sợi dây liên kết vô hình nhưng bền chặt, giúp hai dân tộc luôn kề vai sát cánh trên các diễn đàn đa phương, đặc biệt là tại Liên hợp quốc, Phong trào không liên kết và các cơ chế đa phương chính đảng như Diễn đàn Sao Paulo, Cuộc gặp quốc tế các đảng cộng sản và công nhân (IMCWP).

Trên trường quốc tế, Việt Nam luôn khẳng định lập trường nhất quán, kiên quyết yêu cầu dỡ bỏ ngay và vô điều kiện các biện pháp bao vây, cấm vận kinh tế, thương mại và tài chính đơn phương, phi lý chống lại Cuba, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình, đồng thời kêu gọi đưa Cuba ra khỏi Danh sách đơn phương các nước bảo trợ khủng bố. Ngược lại, Cuba luôn dành cho Việt Nam sự ủng hộ trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, tham gia vào các cơ chế hợp tác khu vực, ủng hộ Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Sự gắn kết lý luận và thực tiễn này giúp mỗi quốc gia tự tin hơn trong việc lựa chọn con đường phát triển phù hợp với đặc thù riêng, khẳng định giá trị bền vững của tình đoàn kết quốc tế trong kỷ nguyên số.

Hiện thực hóa các cam kết định lượng và chính sách ưu tiên trong kinh tế và đầu tư

Chuyển hóa tình cảm chính trị thành hiệu quả định lượng là mục tiêu chiến lược mà hai Chính phủ đang nỗ lực hiện thực hóa với những con số cụ thể và các chính sách ưu tiên mang tính đột phá. Kim ngạch thương mại song phương trong gần đây đã có sự tăng trưởng thực chất, duy trì ổn định với mục tiêu dài hạn đạt mức 500 triệu USD thông qua việc triển khai quyết liệt các ưu đãi từ Hiệp định Thương mại Việt Nam – Cuba.

Việt Nam hiện giữ vị trí là nhà đầu tư lớn nhất từ khu vực châu Á tại Cuba, với tổng vốn cam kết đầu tư hàng trăm triệu USD tập trung mạnh mẽ vào Đặc khu Phát triển Mariel. Tại đây, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đầu tư vào hạ tầng khu công nghiệp mà còn trực tiếp sản xuất các mặt hàng thiết yếu như vật liệu xây dựng, hàng gia dụng, hóa mỹ phẩm, giúp Cuba giải quyết bài toán thiếu hụt hàng hóa và giảm dần sự phụ thuộc vào nhập khẩu từ các thị trường xa xôi. Để thúc đẩy dòng chảy kinh tế này, các văn kiện hợp tác về tài chính và ngân hàng được ký kết đã xác lập một cơ chế thanh toán linh hoạt, tháo gỡ một trong những "điểm nghẽn" lớn nhất của giao thương song phương, tạo sự yên tâm cho cộng đồng doanh nghiệp hai nước mở rộng quy mô hợp tác.

Sự hợp tác kinh tế được định hình rõ nét qua các ngành và lĩnh vực ưu tiên như năng lượng, viễn thông, du lịch, xây dựng, dịch vụ y tế, công - nông nghiệp và công nghiệp lương thực, dược phẩm và công nghệ sinh học. Trong lĩnh vực năng lượng, Việt năng đã xác định việc hỗ trợ Cuba hiện đại hóa hệ thống điện năng và phát triển năng lượng tái tạo là một nhiệm vụ ưu tiên. Các biên bản ghi nhớ về việc lắp đặt các cánh đồng điện mặt trời và đầu tư vào điện gió đã được cụ thể hóa bằng các dự án triển khai tại chỗ, tiêu biểu là dự án Tổ hợp năng lượng mặt trời tại Cuba, giúp nước bạn tận dụng nguồn năng lượng sạch dồi dào và tiến tới tự chủ năng lượng.

Ở chiều ngược lại, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các chính sách ưu tiên tối đa cho việc đăng ký và lưu hành các loại dược phẩm, chế phẩm sinh học và vắc-xin có hàm lượng trí tuệ cao của Cuba tại thị trường Việt Nam. Đây là mô hình hợp tác mang tính bổ trợ hoàn hảo, nơi năng lực sản xuất và vốn của Việt Nam kết hợp với trình độ khoa học và công nghệ y tế hàng đầu của Cuba. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, hai bên đã thúc đẩy thành lập Công ty liên doanh trong lĩnh vực dược phẩm và công nghệ sinh học, đồng thời ký kết Biên bản ghi nhớ về việc thành lập liên doanh giữa các doanh nghiệp Việt Nam, Viện Kinh tế xanh và Tập đoàn Labiofam của Cuba.

Nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng, hai Quốc hội và Chính phủ hai nước chú trọng công tác phối hợp, tăng cường hợp tác pháp luật và tư pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, đảm bảo các cam kết có thể được triển khai khả thi và bền vững trên thực tế. Phía Cuba luôn khẳng định cam kết tạo điều kiện thuận lợi và ưu tiên để gia tăng sự hiện diện và tham gia của các doanh nghiệp, tập đoàn lớn của Việt Nam như Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel), Công ty Cổ phần FPT đầu tư phát triển tại thị trường Cuba.

Sứ mệnh an ninh lương thực và vai trò điều phối chiến lược của ngành nông nghiệp

Một trong những biểu tượng thực tế và cảm động nhất trong quan hệ song phương chính là sự hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm đảm bảo an ninh lương thực bền vững cho Cuba với những số liệu định lượng về năng suất và sản lượng rất ấn tượng. Sự hỗ trợ này được thực hiện xuyên suốt qua nhiều giai đoạn phát triển, từ các dự án trồng lúa hộ gia đình trước đây cho đến các thỏa thuận chiến lược toàn diện hiện nay.

Hàng loạt dự án hỗ trợ kỹ thuật canh tác lúa gạo, ngô và thủy sản đã được triển khai với quy mô hàng ngàn héc-ta tại các vùng trọng điểm của Cuba. Kết quả thực chứng cho thấy, tại các vùng có chuyên gia Việt Nam hỗ trợ, năng suất lúa đã tăng vọt từ mức 3 tấn lên mức ổn định 6-7 tấn mỗi héc-ta, góp phần quan trọng vào việc cải thiện nguồn cung lương thực tại chỗ cho nhân dân Cuba. Việt Nam không chỉ hỗ trợ gạo bằng tinh thần "nhường cơm sẻ áo" thông qua các lô hàng nghĩa tình hàng chục ngàn tấn mỗi năm mà quan trọng hơn là đã thực hiện chiến lược "trao cần câu", giúp bạn làm chủ toàn bộ chuỗi quy trình từ chọn giống, quản lý thủy lợi đến phòng trừ dịch hại theo phương pháp hiện đại và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo tinh thần các thỏa thuận hợp tác nông nghiệp hiện nay, tiêu biểu là Thỏa thuận giữa Chính phủ hai nước về thúc đẩy sản xuất lúa gạo, từng bước đảm bảo an ninh lương thực tại Cuba giai đoạn 2025 - 2027, Việt Nam cam kết tiếp tục cung cấp vật tư nông nghiệp, phân bón và các thiết bị máy móc cần thiết, đồng thời mở rộng mô hình sang chăn nuôi gia súc và nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Ngành nông nghiệp đóng vai trò là nhịp cầu kết nối các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam sang đầu tư trực tiếp tại Cuba, tạo ra các chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến chế biến và phân phối. Việc đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao cho Cuba cũng được đẩy mạnh thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn và dài hạn tại các học viện nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam.

Khi mỗi bắp ngô hay hạt gạo thu hoạch trên đất Cuba mang dấu ấn kỹ thuật và tình cảm chân thành từ Việt Nam, đó chính là minh chứng cho việc hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo hai Đảng về một nền nông nghiệp tự cường cho Cuba. Đây không chỉ là một dự án hỗ trợ kinh tế mà là một nhiệm vụ chính trị mang tính nhân văn sâu sắc, khẳng định Việt Nam luôn là người bạn đồng hành tin cậy nhất của Cuba trong mọi giai đoạn khó khăn nhất, giúp bạn củng cố an ninh lương thực – nền tảng cho sự ổn định xã hội và độc lập dân tộc.

Hệ sinh thái tri thức và sức mạnh từ nhịp đập ngoại giao nhân dân bền vững

Mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba đã vượt xa những khuôn khổ ngoại giao chính thức giữa hai Nhà nước để hình thành một hệ sinh thái tri thức và tình cảm nhân dân sâu sắc, nơi con người luôn là trung tâm của mọi sự phát triển. Các văn kiện hợp tác về giáo dục và đào tạo được ký kết đã mở rộng quy mô học bổng dành cho sinh viên hai nước, tạo ra một đội ngũ sứ giả hữu nghị thế hệ mới am hiểu sâu sắc về văn hóa, lịch sử và ngôn ngữ của nhau.

Sức mạnh của ngoại giao nhân dân còn được thể hiện rõ nét qua việc phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức hội hữu nghị và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc lan tỏa hình ảnh và thành tựu của mỗi nước ra cộng đồng quốc tế. Tiêu biểu như trong “Năm Hữu nghị Việt Nam - Cuba 2025”, các cơ quan hữu quan đã tổ chức phong phú các hoạt động trao đổi, giao lưu văn hóa nghệ thuật nhân kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Đặc biệt, Chương trình vận động ủng hộ nhân dân Cuba với chủ đề “65 năm nghĩa tình Việt Nam - Cuba” do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam phát động đã thu hút sự hưởng ứng rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Đành, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã trao tặng tổng số tiền 615 tỷ đồng từ chương trình này để hỗ trợ kịp thời nhân dân Cuba vượt qua các thách thức về kinh tế, an ninh lương thực và năng lượng. Nhận định về tình cảm đặc biệt này, Đại sứ Cuba Rogelio Polanco Fuentes chia sẻ: “Những đợt kêu gọi ủng hộ vật chất, đặc biệt là gạo, để gửi sang Cuba, được nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan và người dân Việt Nam đồng loạt phát động, là sự hỗ trợ vô giá và nguồn động viên tinh thần mà chúng tôi vô cùng trân quý”.

Hệ thống báo chí chính thống của cả Việt Nam và Cuba luôn dành sự quan tâm đặc biệt để đưa tin về những bước tiến của mỗi quốc gia, coi thành công của bạn cũng chính là niềm vui của mình. Sự tương hỗ truyền thông này giúp nhân dân hai nước luôn có cái nhìn khách quan, tích cực và tự hào về người đồng chí cách nửa vòng trái đất, đồng thời tạo ra một "lá chắn" dư luận vững chắc bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Cuba trước mọi diễn biến phức tạp của tình hình thế giới. Trong tương lai, việc số hóa các tư liệu lịch sử và tăng cường giao lưu trên không gian mạng sẽ giúp giới trẻ hai nước kết nối thường xuyên hơn, biến những câu chuyện lịch sử hào hùng thành những hành động thực tế cho công cuộc xây dựng đất nước. Tình hữu nghị Việt Nam – Cuba vì thế không bao giờ là một khái niệm trừu tượng mà là một thực thể sống động, được nuôi dưỡng bằng trí tuệ, bằng những con số tăng trưởng thương mại và bằng niềm tin sắt đá vào một thế giới hòa bình.

Việt Nam là hình mẫu đổi mới và bản lĩnh trong mắt bạn bè quốc tế

Hành trình gần 40 năm triển khai chính sách Đổi mới của Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước đạt tới tầm cao chưa từng có. Từ một quốc gia phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc trong giai đoạn 1976-1986, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ. Các chính sách được thông qua từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ tính đúng đắn, giúp đất nước đạt tăng trưởng kinh tế năng động và cải thiện đáng kể đời sống nhân dân. Những người bạn Cuba chứng kiến giai đoạn đầu của Đổi mới đã ghi nhận sâu sắc bản lĩnh này. Nguyên Đại sứ Cuba tại Việt Nam Fredesmán Turró González chia sẻ: “Thời điểm đó, Việt Nam đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc. Các chính sách được thông qua tại Đại hội VI có tầm chiến lược và thể hiện rõ tính đúng đắn. Nhờ đó, Việt Nam không chỉ thoát khỏi khủng hoảng mà còn đạt tăng trưởng kinh tế năng động, cải thiện đáng kể đời sống nhân dân. Sự thay đổi nhanh chóng trong một thời gian ngắn là điều khiến ai từng biết Việt Nam trước năm 1986, như tôi, đều không khỏi khâm phục1”.

Những số liệu thực chứng về thành quả kinh tế của Việt Nam phản ánh một bản lĩnh vững vàng trong thời kỳ hội nhập: từ một trong 15 quốc gia lạc hậu nhất thế giới năm 1985, Việt Nam vươn lên thành nước có thu nhập trung bình thấp vào năm 2011 và đạt mức thu nhập trung bình vào năm 2023. Đặc biệt, tổng kim ngạch thương mại ghi nhận con số ấn tượng, gần 800 tỷ USD, tự định vị mình là một trong bốn nền kinh tế lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Đi đôi với phát triển kinh tế, tư duy đối ngoại "ngoại giao cây tre" mềm mại nhưng bền bỉ, uyển chuyển nhưng kiên cường đã giúp Việt Nam khẳng định vị thế bằng sự cân bằng và linh hoạt trước các xu hướng toàn cầu phức tạp.

Đối với Cuba, những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội và kinh nghiệm lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam luôn là nguồn cảm hứng và là nguồn tham khảo quý báu. Ban lãnh đạo Cuba đánh giá cao các bài học thực tiễn của Việt Nam trong việc phát huy vai trò của kinh tế tư nhân, điều chỉnh luật đầu tư nước ngoài và phát triển các đặc khu kinh tế để áp dụng linh hoạt vào tiến trình cập nhật hóa mô hình kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa của mình. Đại sứ Cuba tại Việt Nam khẳng định: "Cuba luôn coi Việt Nam là người anh em, người đồng chí thân thiết và là hình mẫu trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước".

Sự cải thiện công bằng xã hội và những giá trị nhân văn từ Cuba

Ở phương diện ngược lại, Cuba, bất chấp mọi áp lực phong tỏa và cấm vận kéo dài, vẫn chứng minh một sức sống kỳ diệu và đạt được nhiều chỉ số quan trọng về phát triển con người nhờ vào ý chí vĩ đại của các thế hệ lãnh đạo cách mạng và sự tham gia tự giác của toàn thể nhân dân. Cuba đã thực hiện thành công việc phổ cập giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao và xây dựng hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, y tế dự phòng miễn phí dành cho tất cả mọi người mà không chịu bất cứ sự phân biệt nào. Đây chính là sự cải thiện công bằng xã hội vượt bậc tại Cuba mà không phải chịu những đánh đổi về chính trị, thể chế hay suy thoái xã hội.

Mô hình y tế cộng đồng toàn diện và năng lực đào tạo y khoa của Cuba là những lĩnh vực có giá trị thực tiễn cao mà Việt Nam có thể nghiên cứu, học hỏi. Dù còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, Cuba vẫn là một nhân tố tích cực trong việc hỗ trợ đào tạo hàng nghìn sinh viên quốc tế, đặc biệt là sinh viên ngành y của Việt Nam. Sự phối hợp giữa trình độ khoa học, công nghệ y tế, năng lực tầm soát sớm các bệnh mãn tính của các chuyên gia Cuba tại các cơ sở như Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam-Cuba ở Đồng Hới là minh chứng cho một sự tương trợ y học mang tính nhân văn sâu sắc. Với sự khiêm nhường và chân thành, bạn bè Cuba luôn sẵn lòng sẻ chia những kinh nghiệm quý báu được đúc kết từ hành trình cách mạng của mình trên tinh thần tôn trọng và thấu hiểu bối cảnh riêng biệt của mỗi dân tộc.

Thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Cuba trong bối cảnh mới

Sự tiếp nối và làm sâu sắc mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Cuba một lần nữa được khẳng định mạnh mẽ thông qua buổi tiếp chính thức đồng chí Rogelio Polanco Fuentes, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa Cuba tại Việt Nam, của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vào chiều ngày 20/5/2026 tại trụ sở Chính phủ. Đây là sự kiện đối ngoại quan trọng, mang tính thời sự cao trong bối cảnh hiện nay, định hình rõ nét các bước đi cụ thể tiếp theo của hai bên nhằm hướng đến kỷ nguyên mới.

Tại buổi tiếp, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã trân trọng gửi lời thăm hỏi đến Lãnh tụ Cách mạng Cuba, Đại tướng Raúl Castro, Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Miguel Díaz-Canel, Thủ tướng Manuel Marrero và các đồng chí Lãnh đạo Cuba. Đồng thời, Thủ tướng bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo chủ chốt của Cuba đã có thư, thông điệp chúc mừng kết quả Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như kết quả cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI vừa qua. Trên cương vị mới của mình, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định: “Sẽ tiếp tục đóng góp vào việc không ngừng mở rộng và nâng cao hiệu quả mối quan hệ hợp tác hữu nghị đặc biệt, tương xứng với tiềm năng, mức độ quan hệ và tin cậy chính trị giữa hai nước1”.

Đáp lại những lời tốt đẹp từ người đứng đầu Chính phủ Việt Nam, Đại sứ Rogelio Polanco Fuentes đã chuyển lời chúc mừng nồng nhiệt của các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Cuba đến Thủ tướng Lê Minh Hưng. Đại sứ bày tỏ niềm vui mừng và chia sẻ sâu sắc về những bước tiến tích cực, toàn diện trong quan hệ hai nước thời gian qua, đặc biệt là việc duy trì thường xuyên các chuyến trao đổi đoàn các cấp. Nổi bật nhất là hai chuyến thăm mang tính lịch sử: chuyến thăm cấp Nhà nước đến Cuba của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (tháng 9/2024) và chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Cuba Miguel Díaz-Canel (tháng 9/2025). Các chuyến thăm này không chỉ diễn ra vào dịp kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao mà còn trùng hợp với các ngày lễ trọng đại của Việt Nam là kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng khẳng định Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn luôn ghi nhớ, trân trọng tình đoàn kết, sự ủng hộ chí tình, trong sáng và thủy chung son sắt mà Đảng, Chính phủ và nhân dân Cuba đã dành cho Việt Nam trong suốt sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ngày nay. Để đưa mối quan hệ đặc biệt này bước vào một giai đoạn mới, hướng tới sự thịnh vượng chung, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã đề nghị hai bên phối hợp chặt chẽ triển khai các thỏa thuận đã được lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất, thúc đẩy trao đổi đoàn các cấp và hợp tác bền vững. Đồng thời, Thủ tướng nhấn mạnh các giải pháp mang tính hành động cao đối với các bộ, ngành và địa phương hai nước:

* Phối hợp triển khai quyết liệt các thỏa thuận cấp cao: Hai bên phối hợp chặt chẽ để hiện thực hóa toàn bộ các thỏa thuận, văn kiện đã được lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất, củng cố nền tảng quan hệ.

* Thúc đẩy các mô hình hợp tác bền vững và thực chất: Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực nông nghiệp, tư pháp, công nghệ sinh học; thúc đẩy hiệu quả các dự án hợp tác trồng lúa, thủy sản, sản xuất lương thực tại Cuba đang đạt nhiều kết quả thiết thực.

* Tổ chức các hoạt động kỷ niệm mang tính biểu tượng lịch sử: Hai bên phối hợp chặt chẽ để tổ chức các hoạt động nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Lãnh tụ Fidel Castro, người bạn lớn của nhân dân Việt Nam (13/8/1926 - 13/8/2026).

* Nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương: Nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác giữa hai Chính phủ và giữa các Bộ, ngành địa phương để tháo gỡ kịp thời vướng mắc thực tiễn.

* Tăng cường sự tương hỗ trên trường quốc tế: Tiếp tục phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau một cách tuyệt đối tại các diễn đàn đa phương toàn cầu.

Đại sứ Cuba hoàn toàn nhất trí cao với những ý kiến chỉ đạo định hướng chiến lược của Thủ tướng Lê Minh Hưng, tái khẳng định vị thế hình mẫu của Việt Nam và bày tỏ: “Sẵn sàng cùng Việt Nam triển khai tốt các thỏa thuận cấp cao, làm sâu sắc hơn nữa hợp tác thực chất trên các lĩnh vực hai bên có thế mạnh và nhu cầu, nhất là nông nghiệp và công nghệ sinh học”.

Để mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Cuba tiếp tục phát triển thực chất, năng động và có chiều sâu, việc thực thi các giải pháp mang tính đột phá và đồng bộ dưới sự định hướng của Chính phủ hai nước là rất cần thiết.

Thứ nhất, tăng cường kết nối học thuật và nghiên cứu lý luận chuyên sâu: Việc phối hợp giữa các học viện chính trị, cơ quan nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách của hai nước cần được đẩy mạnh. Điều này giúp xác định các chương trình nghiên cứu trọng tâm, làm rõ định hướng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam gắn liền với quá trình cập nhật hóa mô hình kinh tế-xã hội của Cuba trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng Fidel Castro.

Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ cơ chế hợp tác liên Chính phủ và liên Nghị viện: Cần tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Ủy ban Liên Chính phủ và Ủy ban hợp tác liên nghị viện theo hướng linh hoạt, hiệu quả, lấy kết quả thực tế làm thước đo thành công. Tập trung rà soát, tháo gỡ kịp thời các rào cản hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý an toàn cho các hoạt động kinh tế, liên doanh công nghệ cao.

Thứ ba, đa dạng hóa các hình thức hợp tác kinh tế và kết nối doanh nghiệp: Khuyến khích sự hiện diện dài lâu của các doanh nghiệp, tập đoàn viễn thông, công nghệ, chuyển đổi số của Việt Nam như Viettel, FPT đầu tư trực tiếp vào thị trường Cuba. Giao cho các bộ, ngành đề xuất các phương thức, chính sách ưu đãi linh hoạt nhằm tháo gỡ khó khăn về thanh toán, vận chuyển, biến những thế mạnh riêng biệt của mỗi nước thành lợi thế cạnh tranh chung.

Thứ tư, đổi mới toàn diện nội dung và hình thức truyền thông quốc gia: Các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền hình và phát thanh của hai nước cần tăng cường ứng dụng mạng xã hội, phối hợp chặt chẽ với các kênh truyền thông có ảnh hưởng lớn như Cubadebate để truyền tải thông tin chính thống, khách quan, tạo dựng "lá chắn" dư luận vững chắc bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian mạng.

Thứ năm, thúc đẩy kết nối du lịch, lữ hành và giao lưu văn hóa nghệ thuật: Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp lữ hành, hãng hàng không mở rộng kết nối tuyến điểm, kết hợp chặt chẽ với các hội hữu nghị, mạng lưới trường đại học để thúc đẩy giao lưu nhân dân, tăng cường sự hiểu biết xuyên thấu giữa hai dân tộc.

Sứ giả hữu nghị và trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc kế thừa di sản lịch sử

Nhìn về tương lai của mối quan hệ song phương, nhân tố con người, đặc biệt là thế hệ trẻ và các lưu học sinh đang học tập tại mỗi nước, chính là những viên gạch kết nối vững chắc nhất. Những người trẻ này không chỉ tiếp thu tri thức mà còn đang ngày đêm gánh vác sứ mệnh thiêng liêng: gìn giữ và nuôi dưỡng mối quan hệ bền chặt ấy bằng cách riêng của mình.

Tại đất nước Cuba xa xôi, những sinh viên Việt Nam luôn mang trong mình niềm tự hào và ý thức sâu sắc về vai trò của bản thân. Bạn Đặng Quỳnh Anh, một du học sinh Việt Nam tại Cuba, đã bộc bạch: “Tôi luôn ý thức rằng mình cũng là một đại sứ văn hóa, phải giữ gìn hình ảnh Việt Nam anh em trong mắt nước bạn1”.

Lời tâm sự giản dị nhưng chứa đựng một tinh thần trách nhiệm cao của một thế hệ mới đang tiếp bước cha anh. Không chỉ dừng lại ở việc giao lưu văn hóa, những tri thức khoa học tiên tiến được học tập từ Cuba sẽ là nguồn lực quý báu để cống hiến cho quê hương sau này. Bạn Huỳnh Dạ Thảo, sinh viên đang theo học ngành y tại Cuba, đã thổ lộ ước mong đầy tính nhân văn: “Sau khi tốt nghiệp, em mong được mang kiến thức học hỏi từ Cuba về góp phần cho nền y học cộng đồng của Việt Nam. Đó là cách em muốn tri ân tình cảm và cơ hội mà hai nước đã dành cho thế hệ chúng em2”.

Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng luôn mở rộng vòng tay đón nhận và tạo những điều kiện học tập, sinh hoạt tốt nhất cho các thế hệ sinh viên Cuba sang nghiên cứu và học tập. Những "sứ giả hữu nghị" trẻ tuổi này, khi trở về nước, sẽ mang theo không chỉ tấm bằng đại học mà còn là cả một kho tàng ký ức đẹp đẽ về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam. Họ chính là lực lượng cốt lõi, những người sẽ trực tiếp vận hành các dự án hợp tác liên doanh, các chương trình giao lưu kinh tế, văn hóa trong tương lai, bảo đảm cho mạch nguồn hữu nghị đặc biệt không bao giờ bị ngắt quãng.

Nhìn lại chặng đường lịch sử đã qua và hướng tới những chân trời mới, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào và lạc quan về tương lai của mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Cuba. Mối quan hệ ấy đã được thử thách qua lửa đỏ của chiến tranh, qua những giai đoạn bao vây cấm vận ngặt nghèo, và giờ đây đang tiếp tục được tôi luyện trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước bền vững, thích ứng linh hoạt với những chuyển dịch vũ bão của thời đại số.

Sự kết hợp hài hòa giữa bản lĩnh Đổi mới của Việt Nam và tinh thần kiên cường, trí tuệ khoa học của Cuba sẽ tạo nên một sức mạnh tổng hợp to lớn. Hai nước không chỉ dừng lại ở các chương trình hỗ trợ mang tính ngắn hạn mà đang cùng nhau xây dựng các chiến lược hợp tác dài hạn, có tính bổ trợ cao về cơ cấu kinh tế. Khát vọng vươn mình thịnh vượng của Việt Nam hòa chung với tiến trình cập nhật hóa mô hình kinh tế - xã hội của Cuba, tạo nên một hình mẫu duy nhất trong lịch sử ngoại giao quốc tế: một mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện dựa trên nền tảng của sự chân thành, tin cậy và tình anh em thủy chung son sắt.

Xin mượn lời của Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes để thay cho lời kết đầy ý nghĩa: “Ngày nay, Cuba và Việt Nam là biểu tượng của các mối quan hệ song phương mà rất ít quốc gia trên thế giới có thể sánh bằng. Chúng ta cần gìn giữ mối quan hệ quý giá này để cùng nhau vượt qua những thử thách phía trước và xây dựng một thế giới gắn bó, hợp tác và bền vững hơn1”.

Đúng vậy! Để một Việt Nam hiện diện rõ nét trong lòng Cuba và một Cuba cũng luôn khắc sâu trong tim Việt Nam, lãnh đạo và nhân dân hai nước cần không ngừng nuôi dưỡng tình hữu nghị bằng những hành động cụ thể, thiết thực. Hãy để thế hệ trẻ hai nước cùng cất lên những bài cá mới về tình đoàn kết, biến những giá trị tinh thần thiêng liêng thành động lực vật chất mạnh mẽ, đưa hai dân tộc vững vàng vươn mình, gặt hái những thành tựu thịnh vượng to lớn trong kỷ nguyên mới./.


1 https://special.nhandan.vn/ky-2-Viet-tiep-khat-vong-cung-vuon-xa/index.html

1 https://baochinhphu.vn/cuba-luon-coi-viet-nam-la-hinh-mau-trong-su-nghiep-doi-moi-phat-trien-dat-nuoc-102260520162421133.htm

1 https://special.nhandan.vn/ky-3-nhung-trai-tim-rieng-gan-tinh-cam-chung-hai-dat-nuoc/index.html

2 https://special.nhandan.vn/ky-3-nhung-trai-tim-rieng-gan-tinh-cam-chung-hai-dat-nuoc/index.html

1 https://special.nhandan.vn/ky-2-Viet-tiep-khat-vong-cung-vuon-xa/index.html