Nhà lãnh đạo Cuba Fidel Castro (giữa) phát biểu ngày 8-1-1959 tại Havana, Cuba - Ảnh (tư liệu): AFP
Bằng tư duy phản biện sắc bén, khả năng phân tích thực chứng và một nghệ thuật lãnh đạo kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên tắc chiến lược với sự linh hoạt sách lược, Fidel Castro đã từng bước hóa giải các mâu thuẫn nội tại và ngoại bang. Dưới góc nhìn khoa học chính trị và lịch sử học thuật, năng lực của vị tổng tư lệnh không chỉ thể hiện ở việc tổ chức lực lượng vũ trang mà còn in đậm trong việc giải quyết những bài toán xã hội phức tạp nhất như phân biệt chủng tộc, định kiến giới tính, xu hướng tính dục và mối quan hệ giữa ý thức hệ mác-xít với đức tin tôn giáo. Nghiên cứu tiến trình này một cách khách quan và toàn diện dựa trên các nguồn tư liệu gốc giúp làm sáng tỏ bản chất của một trong những thiên tài lãnh đạo xuất sắc nhất thế kỷ 20.
Tư duy vô tư và bản lĩnh quản trị giai đoạn quá độ chính trị
Cuộc Cách mạng Cuba năm 1959 là một trong những sự kiện chính trị có tính bước ngoặt ở Tây bán cầu. Dưới góc nhìn khoa học chính trị và lịch sử, thành công và sự vững vàng của chính thể Cách mạng Cuba trước những biến động khuyết liệt không thuần túy là kết quả của bối cảnh lịch sử khách quan, mà in đậm dấu ấn năng lực chèo lái chiến lược, tư duy biện chứng và phẩm chất nghệ thuật lãnh đạo của Fidel Castro. Khác với xu hướng thâu tóm quyền lực thông thường của các thủ lĩnh quân sự sau chiến tranh, Fidel Castro đã chủ động thiết lập một dạng thức quá độ chính trị bằng cách chỉ định một chính phủ dân sự, một bước đi thể hiện rõ tư duy độc lập và tầm nhìn xa trông rộng trong việc xây dựng thể chế.
Fidel Castro đã dứt khoát khước từ chức vị tổng thống ngay từ đầu vì ông không muốn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bị hoen ố bởi những toan tính vị kỷ hay tham vọng cá nhân. Điều này được thể hiện rõ qua lời khẳng định mang tính bản chất của ông trong cuộc đối thoại:
"Chúng tôi đã chỉ định một chính phủ. Trước đó, tôi đã đặt vấn đề là tôi không kỳ vọng chức vị tổng thống". "Tôi muốn chứng tỏ là tôi không chiến đấu vì lợi ích cá nhân1".
Sự vô tư này không đơn thuần là một biểu hiện của phẩm chất đạo đức cá nhân cao đẹp, mà xét về mặt khoa học chính trị, đây là một chiến lược xây dựng lòng tin đại chúng sắc bén. Trong một xã hội vừa trải qua chế độ độc tài Batista đầy rẫy tham nhũng và lạm quyền, hành động từ chối quyền lực tối cao của vị tổng tư lệnh quân khởi nghĩa đã tạo ra một cú hích tâm lý mạnh mẽ, dập tắt mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động về mục đích của cuộc cách mạng.
Về mặt thiết chế, việc Phong trào 26 tháng 7 tìm kiếm một ứng viên và chọn ông Manuel Urrutia, một vị quan tòa từng dũng cảm chống lại Batista và từng xử trắng án cho các chiến sĩ cách mạng trong một phiên tòa quan trọng trước đây, làm Tổng thống lâm thời là một bước đi mang tính toán học chính trị rất cao. Ông Urrutia là người có uy tín lớn trong xã hội, việc đưa ông lên nắm quyền lãnh đạo chính phủ giúp chính quyền mới nhanh chóng thu phục nhân tâm, tranh thủ được sự đồng thuận của các tầng lớp tư sản tiến bộ và giới trí thức trung lưu. Fidel Castro thừa nhận Urrutia là người có uy tín, chỉ tiếc rằng vị quan tòa này không có thêm một chút đức tính khiêm tốn, giản dị và ý thức cộng đồng để phối hợp nhịp nhàng hơn với thực tế cách mạng đang diễn biến nhanh chóng.
In suốt giai đoạn chuyển tiếp này, khi được hỏi về việc bản thân có muốn làm tổng thống vào thời điểm đó hay không, Fidel Castro tái khẳng định một thái độ kiên định:
"Không, tôi không quan tâm". "Điều mà tôi muốn là cuộc Cách mạng, là cuộc đấu tranh, là sự lớn mạnh của Quân khởi nghĩa anh hùng của chúng tôi1".
Tầm nhìn của Fidel Castro vượt xa khỏi những danh vị hành chính đơn thuần, ông hiểu rằng quyền lực thực sự của cách mạng nằm ở sức mạnh của quần chúng vũ trang và tính chính nghĩa của các đạo luật mới chứ không phải ở chiếc ghế tổng thống. Ông nhận thức rõ ràng rằng vào một thời điểm nào đó, khi tình hình ổn định, có thể có cuộc tuyển cử và ông hoàn toàn có thể kỳ vọng ghế tổng thống nếu ông muốn, nhưng ông không hề để tâm vào chuyện đó. Sự tập trung tối đa của vị lãnh tụ này được dành trọn vẹn cho việc xây dựng luật pháp Cách mạng và thực hiện Cương lĩnh Moncada, những nền tảng pháp lý và kinh tế xã hội cốt lõi nhằm cải tạo đất nước.
Việc tiến hành cả một cuộc chiến tranh trường kỳ, gian khổ mà không có tham vọng cá nhân là làm tổng thống ngay sau khi cuộc chiến kết thúc là một hiện tượng hiếm thấy trong lịch sử các cuộc cách mạng thế giới. Fidel Castro tự tin bảo đảm điều này:
"Đúng thế, tôi có thể bảo đảm với anh là đúng như vậy". "Có lẽ ngoài tính vô tư, còn có ảnh hưởng của một vài yếu tố khác nữa, có thể là do lòng tự hào, hay đôi chút gì đó tương tự, nhưng điều chắc chắn là tôi không quan tâm2".
Sự tự hào ở đây cần được hiểu theo nghĩa khoa học là lòng tự trọng của một nhà cách mạng chân chính, người coi phần thưởng lớn nhất là sự thành công của lý tưởng chứ không phải là những bổng lộc hay tước vị. Tâm thế đó bắt nguồn từ một trải nghiệm sinh tử khắc nghiệt, khi ông chia sẻ một suy nghĩ sâu sắc:
"Anh nên nhớ là tôi cho rằng mình đã chết từ lâu. Tôi chiến đấu vì cuộc cách mạng, tước vị đối với tôi không quan trọng3".
Việc chấp nhận tâm thế coi bản thân như một người đã hy sinh từ lâu giúp Fidel Castro giải phóng mình khỏi mọi nỗi sợ hãi và sự ràng buộc của danh lợi. Được thỏa lòng về cuộc đấu tranh, về sự thành công, về sự chiến thắng là phần thưởng lớn hơn nhiều so với bất cứ chức vị nào, vì thế, khi đưa ra ý kiến không muốn làm tổng thống, ông tỏ ra rất dứt khoát. Phong trào 26 tháng 7 không chỉ tiến cử Urrutia làm tổng thống mà trên thực tế đã thể hiện sự tôn trọng quyền hạn của ông ta trong khuôn khổ hiến pháp. Phong trào 26 tháng 7 cùng với Urrutia tiến hành bổ nhiệm các thành viên nội các một cách dân chủ, tạo nên một cơ cấu chính phủ liên hiệp rộng rãi, chuẩn bị cho những bước đi căn cơ tiếp theo của lịch sử Cuba.
Nghệ thuật trung hòa chủ nghĩa bè phái và tập hợp lực lượng
Một trong những thách thức lớn nhất đối với bất kỳ nhà lãnh đạo cách mạng nào là quản trị sự đa dạng ý thức hệ và kiểm soát xung đột nội bộ. Phong trào 26 tháng 7 không phải là một tổ chức đồng nhất về giai cấp mà là một tập hợp mặt trận rộng rãi, trong đó, một bộ phận ban lãnh đạo là người thuộc tầng lớp trung lưu và thiên hữu gia nhập phong trào về sau này, trong khi số khác lại thuộc Cánh tả triệt để. Sự phân hóa này chứa đựng nguy cơ rạn nứt sâu sắc khi cách mạng chuyển sang giai đoạn thực hiện các chính sách kinh tế xã hội sâu rộng. Nhiều thành viên trong số họ sau này đã viết hồi ký, kể lại nhiều chuyện thú vị và trung thực mà họ đã suy ngẫm, kể cả những điều họ từng tranh cãi gay gắt với Che Guevara và Camilo Cienfuegos.
Tài năng của Fidel Castro thể hiện ở chỗ ông vừa thấu hiểu sự ngờ vực của các đồng chí thân cận, vừa biết cách dung hòa để giữ vững đại cục đoàn kết. Che Guevara, với lập trường mácxít kiên định, rất ngờ vực và rất hoài nghi một số người. Che đã chứng kiến những vấn đề sai lầm trong cuộc bãi công hồi tháng 4 năm 1958 và cho rằng một số lãnh đạo của Phong trào 26 tháng 7 mà anh từng đàm đạo ở Villa Clara trong thời kỳ chiến tranh là những người cố kết với tư tưởng tư sản. Sự mâu thuẫn này bộc lộ rõ nhất qua chính sách cốt lõi của cách mạng:
"Che thì rất gắn kết với cải cách ruộng đất còn họ thì nói đến một kiểu cải cách ruộng đất rất ôn hòa, bằng cách đền bù và các biện pháp khác hoặc chỉ nêu lên những trở lực1".
Trước tình thế đó, Fidel Castro đã định hướng hành động cho toàn phong trào dựa trên một chiến lược bao trùm, mặc dù có sự ngờ vực, Che vẫn chủ trương thống nhất các lực lượng cách mạng dưới sự chỉ đạo chung. Khó khăn càng tăng lên gấp bội khi thời đó chủ nghĩa chống cộng còn rất mạnh và có nhiều ảnh hưởng trong xã hội Cuba do hệ quả kéo dài của thời kỳ chủ nghĩa McCarthy. Người ta đã dùng mọi thủ đoạn, mọi phương tiện truyền thông để gieo rắc bao nhiêu thứ nọc độc, gieo rắc bao nhiêu thứ định kiến vào đầu óc quần chúng. Nguy hiểm hơn, đi liền với chủ nghĩa chống cộng của không ít người xuất thân từ giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản là đầu óc bè phái của không ít người cộng sản thuộc Đảng Xã hội nhân dân (PSP).
Fidel Castro phân tích rõ ràng rằng đây không phải là những người thuộc cánh cực tả, mà là những người cộng sản chính thống của PSP, những người từ lâu đã quen với các phương thức và thói quen chia rẽ diễn ra ngay trong nội bộ của đảng này do điều kiện hoạt động bí mật kéo dài. Tuy nhiên, với tầm nhìn của một nhà chiến lược đại tài, Fidel không để những định kiến hay thói quen bè phái đó ngăn cản liên minh cách mạng. Đảng Xã hội nhân dân luôn luôn giữ mối quan hệ tốt với cá nhân Fidel Castro và với Phong trào 26 tháng 7 về sau này. Mối liên hệ này đã được Fidel gieo mầm từ thời sinh viên, khi ông thường xuyên đến mua ở hiệu sách của họ tại đường Carlos III phần lớn những sách kinh điển của chủ nghĩa Mác để tự đọc và nghiên cứu.
Khi tổ chức tiến công trại lính Moncada nhằm lật đổ chính quyền bất hợp pháp Batista bị đại bộ phận nhân dân căm ghét, phong trào của Fidel Castro tiến hành mọi việc trong bí mật vì chỉ như vậy mới có thể thực hiện được trận đánh. Trong cuộc đàn áp khốc liệt sau đó của vương triều Batista, một số lãnh đạo Đảng Cộng sản, trong đó có Lázaro Peña, bị các lực lượng đàn áp bắt giữ một cách ngẫu nhiên trong khi chúng tìm bắt Blas Roca tại Santiago. Bị giam cùng khám với Fidel Castro, Lázaro Peña bị cách ly trong một gian có chấn song sắt. Fidel nhớ lại:
"Tôi thấy ông ta đi đi, lại lại, gương mặt rạng lên vẻ cao thượng, nghiêm trang. Ông ta vô cớ bị buộc tội tòng phạm với trận tiến công của chúng tôi1".
Sự thấu hiểu và đồng cảm trong hoạn nạn đã thắt chặt thêm tình đồng chí giữa các lực lượng. Mặc dù một số người theo lập trường tả khuynh ở ngoài nước lúc đó đề cao thuyết putsch, tức là nổi dậy chớp nhoáng, để phê phán trận Moncada, Fidel Castro vẫn bày tỏ một sự bao dung học thuật sâu sắc. Ông cho rằng không thể quy tội cho họ được, vì rằng không ai có thể hiểu nổi tư tưởng sâu kín của những người đã thực hiện trận chiến đấu ấy, cũng như không ai có điều kiện biết được rằng một sách lược đấu tranh mới đã nảy sinh từ trong một nghìn lẻ một hình thức đấu tranh để thay đổi một xã hội.
Khi các thành viên trong nhóm của Fidel được ra tù nhờ sức ép mạnh mẽ của nhân dân, ông đã ngay lập tức chủ động tiếp xúc trực tiếp với các đồng chí cộng sản trước đó đã cùng đấu tranh trong trường đại học. Với Flavio Bravo, lãnh tụ thanh niên trước đây của PSP, làm đầu mối, Phong trào 26 tháng 7 và Đảng Xã hội nhân dân đã trở thành đồng minh thật sự. Họ nắm được kế hoạch sang Mêhicô của Fidel và thông qua đó, ban lãnh đạo cao cấp bí mật của PSP cũng biết được ý định này, họ hoàn toàn tán đồng, mong muốn duy trì sự trao đổi, hợp tác trong cuộc đấu tranh chống chính quyền độc tài.
Tài năng điều phối chiến lược của Fidel Castro được thử thách cực hạn vào năm 1956. Tại Mêhicô, nghĩa quân gặp khó khăn nghiêm trọng, thậm chí một số đồng chí bị bắt, trong khi tình hình Cuba lúc đó chưa tới mức nguy kịch. Theo các luận điểm cổ điển của phong trào cộng sản thế giới, hành động cách mạng luôn luôn phải diễn ra sau những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn, do đó điều kiện trong sáu tháng cuối năm 1956 được đánh giá là chưa thuận lợi cho cuộc bùng nổ cách mạng. Flavio Bravo đã đến gặp Fidel Castro trên đất Mêhicô để truyền đạt ý kiến của lãnh đạo PSP và đề nghị nghĩa quân lùi thời gian hành động.
Fidel Castro xử lý tình huống này bằng một nghệ thuật kết hợp giữa chữ tín của người quân tử và sự quyết đoán của một nhà tổng soái:
"Chúng tôi coi Flavio như người anh em. Có lẽ chúng tôi quá coi trọng lời hứa của mình rằng hoặc trở thành người tự do hoặc là liệt sĩ trong năm 1956. Nhưng không ai từ bỏ niềm tin của họ, riêng tôi, tôi tin vào những việc mà chúng tôi làm khi ấy1".
Ông quyết định lên đường đổ bộ vào đất Cuba trên con tàu Granma. Dù gặp phải một đòn khủng khiếp ở Alegría de Pío khiến đoàn quân viễn chinh bị đánh tản mát và rất nhiều người bị giết hại, niềm tin chiến lược của Fidel không hề lay chuyển. Trong bối cảnh chính quyền độc tài đắc thắng, giết hại vô số những người cách mạng và các lãnh tụ công đoàn cộng sản để thỏa mãn nỗi hận vào tháng 12 năm 1956, khi các tạp chí cánh tả đăng tải các lý luận về yếu tố khách quan và chủ quan để giải thích rằng tất cả dường như bị mất trắng, Fidel Castro và một số ít đồng chí còn sống sót trên vùng rừng núi Sierra Maestra vẫn vững tin vào chiến thắng. Ông khẳng định:
"Rõ ràng là trên đất nước chúng tôi, điều kiện chủ quan giữ một vai trò đáng kể2".
Tư duy đề cao nhân tố chủ quan, tức là ý chí cách mạng và phương pháp đấu tranh đúng đắn, đã biến không thành có. Từ một nhóm nhỏ chưa đến 250 người, với sự hỗ trợ của nông dân và số thanh niên từ Manzanillo, Bayamo, Santiago do Frank País và Celia Sánchez Manduley gửi đến, Fidel đã xây dựng nên một đội quân tinh nhuệ, thiện chiến, có khả năng chia làm bốn cánh mở rộng tác chiến tràn khắp khu vực chiến lược rộng lớn ở miền Đông.
Sau khi cách mạng thành công, tài năng kiểm soát chủ nghĩa bè phái của Fidel Castro lại được thể hiện một lần nữa trong việc xử lý vụ việc của Aníbal Escalante. Lãnh tụ lịch sử của PSP là Blas Roca, một người tự học từ gia đình nghèo ở Manzanillo, đấu tranh không mệt mỏi để truyền bá tư tưởng mácxít lêninnít, do phải lưu vong nên trong thời kỳ bí mật, Aníbal Escalante đã lãnh trách nhiệm Bí thư Trung ương phụ trách tổ chức. Khi cách mạng thành công, Escalante nắm quyền lực lớn trong Các tổ chức Cách mạng hợp nhất (ORI) và hành động với thói quen bè phái cố hữu là sàng lọc, nắm mọi thứ có lợi cho đảng mình. Fidel Castro nhận diện đây là những sách lược, thủ đoạn cũ rích, đầu óc ghetto nảy sinh từ sự phân biệt đối xử và tư tưởng chống cộng mà họ đã phải quy thuận trong thời gian dài.
Thay vì dùng các biện pháp thanh trừng bạo lực, Fidel Castro chọn cách công khai phê phán điều này trước toàn quốc như là giải pháp duy nhất để cứu vãn khối đoàn kết. Ông xử lý bằng một thái độ bao dung chính trị cao thượng:
"Aníbal chưa hề phản bội và tôi cũng không có gì hận ông ta1".
Ông đánh giá Escalante vẫn là một người có năng lực, thông minh, tổ chức giỏi và thực sự cách mạng. Khối đoàn kết toàn dân được giữ vững nhờ sự im lặng bỏ qua sự phản phúc chính trị mang tính cục bộ đó của Fidel. Thái độ khiêm tốn và đoàn kết này đã giúp hòn đảo bé nhỏ Cuba một mình trụ vững, bảo vệ được thành quả cách mạng ngay cả khi Nhà nước Xôviết sụp đổ và thế lực đế quốc trở thành cực duy nhất cai trị thế giới.
Quản trị công lý cách mạng và sự tỉnh táo trước áp lực quần chúng
Một chính quyền cách mạng mới ra đời luôn phải đối mặt với áp lực đòi hỏi thực thi công lý một cách nhanh chóng và khốc liệt từ phía quần chúng nhân dân, những người đã phải chịu đựng hàng nghìn tội ác tra tấn, giết hại của bộ máy đàn áp Batista. Các ông đã hứa trước nhân dân là sẽ xét xử và tùy theo tội trạng để tử hình các thành viên trong bộ máy đàn áp đó. Tuy nhiên, việc thiết lập các tòa án cách mạng để tiến hành xét xử ngay sau chiến tranh đã khiến nhiều nhà quan sát quốc tế cho rằng Cuba đã làm quá mức.
Dưới góc nhìn khoa học pháp lý và quản trị xã hội, Fidel Castro đã thể hiện một sự tỉnh táo và khả năng tự điều chỉnh tuyệt vời khi nhìn nhận về giai đoạn này. Khi được hỏi liệu những phiên tòa xét xử công khai và các cuộc hành hình sau đó có phải là một sai lầm hay không, ông đã phân tích một cách biện chứng:
"Nếu nói sai lầm thì tôi nghĩ có thể là ở cách thức tiến hành các vụ xét xử, tức là các phiên tòa lại tổ chức ngay ở những nơi công cộng mà vô số người trong dân chúng đã kéo đến do căm phẫn với hàng nghìn tội ác mà bọn tội phạm đã gây nên1".
Việc để công chúng tham gia quá mức cần thiết tại các không gian như khu liên hợp thể thao đã chạm đến và thực tế đụng chạm đến chính quan niệm sâu sắc về công lý của những người lãnh đạo cách mạng. Fidel Castro thấu hiểu sâu sắc tâm lý học đám đông, ông hiểu rằng lòng căm thù chính đáng của nhân dân đối với những tội ác ghê tởm có thể biến các phiên tòa thành nơi giải tỏa cảm xúc cực đoan hơn là thực thi pháp luật một cách nghiêm túc. Ông từng có mặt trong sự kiện Bogotazo ở Côlômbia và hiểu rõ dân chúng nổi dậy vô chính phủ là thế nào, ông cũng nhớ rất rõ bài học lịch sử năm 1933 tại Cuba khi Machado sụp đổ, những kẻ theo Machado bị kéo lê trên đường phố, nhà cửa bị cướp phá do dân chúng tự tay trả thù.
Chính vì vậy, tài năng của Fidel Castro thể hiện ở việc ông đã chủ động dự báo và ngăn chặn làn sóng bạo lực tự phát này ngay từ khi cuộc chiến chưa kết thúc. Vào thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh, nghĩa quân có một đài phát thanh sóng ngắn công suất 1KW đặt trên đỉnh núi Sierra Maestra, thu hút số lượng người nghe đông đảo nhất nước. Qua đài phát thanh đó, Fidel Castro đã liên tục định hướng cho dân chúng:
"Chúng tôi nói với dân chúng là phong trào chúng tôi không muốn có người bị kéo lê trên đường phố, không muốn có sự báo thù cá nhân, vì sẽ có công lý2".
Cách mạng Cuba đã nhanh chóng uốn nắn việc làm sai lệch trong cách thức tổ chức xét xử công khai. Những tên giết người, tay chân của chế độ độc tài đã bị xét xử và trị tội theo đúng luật pháp cách mạng được thông qua một cách chính thức ngay trong chiến tranh. Fidel Castro khẳng định ban lãnh đạo không hề hối hận về việc trừng trị bọn tội phạm, nhưng ông chạnh lòng khi nhớ lại bao cay đắng mà xã hội phải gánh chịu trước những tội ác đó.
Hệ quy chiếu pháp lý được Fidel Castro sử dụng để đối chiếu chính là những phiên xét xử nổi tiếng của Tòa án Nuremberg diễn ra khoảng 12 năm trước đó sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Ông chỉ ra rằng Tòa án Nuremberg đã áp dụng các hình phạt xử tử, tù chung thân đối với bọn tội phạm chiến tranh Đức quốc xã dù lúc đó chưa hề có luật hình sự quốc tế về vấn đề này. Những tên Đức quốc xã đó là những nhà vô địch Olympic về tính dã man, và việc trừng trị chúng là cần thiết để bảo vệ loài người. Tương tự, tại Cuba, việc thực thi công lý là nhằm mục đích răn đe, giáo huấn xã hội dựa trên lời cam kết: "Những tội phạm chiến tranh sẽ bị xét xử và trừng trị để làm gương1".
Sự nhân đạo chủ nghĩa của Fidel Castro còn được thể hiện qua việc kiểm soát nghiêm ngặt án tử hình ngay trong hai năm chiến tranh gian khổ tại Sierra Maestra. Việc áp dụng hình phạt xử tử chỉ xảy ra trong những trường hợp hy hữu, khi có sự phản bội nghiêm trọng hoặc làm gián điệp gây nguy hiểm đến tính mạng của cả đạo quân, và phải thông qua một hội đồng chiến tranh xét xử kỹ lưỡng. Có những kẻ phản bội đã ba lần dắt lính Batista vào khu căn cứ nghĩa quân sau khi bị địch bắt và biến chất. Quân Batista máy móc sử dụng phương sách hứa tha mạng, cho đủ thứ để dụ dỗ tù binh quay lại rừng tìm diệt nghĩa quân hoặc ám sát cá nhân Fidel Castro. Trong hoàn cảnh sống còn đó, nghĩa quân buộc phải xét xử và hành quyết, không có sự lựa chọn nào khác và không thể do dự.
Tuy nhiên, Fidel Castro chia sẻ một sự thật đầy tính nhân văn về tâm lý của các chiến sĩ cách mạng:
"Mọi người đều cảm thấy chán ghét khi làm nhiệm vụ đó, chúng tôi phải chọn lựa nhân sự thật kỹ để thực thi nhiệm vụ không lấy gì làm dễ chịu đối với một số rất ít vụ cần phải áp dụng hình phạt xử bắn2".
Ngay cả đối với những phiên tòa sau này tại La Habana, dù hình thức tổ chức ở khu liên hợp thể thao là một sai phạm bị bộ máy tuyên truyền của đế quốc lợi dụng để xuyên tạc, Fidel khẳng định sai phạm đó hoàn toàn không xuất phát từ sự hận thù hay tàn bạo. Đó là một hiện tượng tâm lý xã hội phức tạp, khi một kẻ từng trực tiếp giết hại mấy chục nông dân lương thiện bị đưa ra xét xử trước hàng nghìn người dân phẫn nộ, ai ai cũng lên án tên sát nhân, nhưng khi bản án sắp được thi hành, trong lòng công chúng lại xuất hiện sự xúc cảm, mủi lòng xót xa và thương hại. Fidel hiểu rằng không có mối quan hệ tương đương giữa ý thức về sự đích đáng của hình phạt với phản ứng xúc cảm của con người trước cái chết. Việc chấn chỉnh kịp thời các hình thức xét xử này chứng minh Cuba là cuộc cách mạng duy nhất đã trừng trị nghiêm trị bọn tội phạm chiến tranh đầu sỏ mà không hề để xảy ra tình trạng tắm máu, cướp bóc hay kéo lê người trên đường phố vô pháp luật.
Giải quyết mâu thuẫn xã hội và chống luận điệu tuyên truyền từ đối phương
Một nhà lãnh đạo tài năng không chỉ giải quyết các vấn đề nội bộ bằng mệnh lệnh hành chính, mà phải có năng lực phân tích khoa học để bóc tách các mâu thuẫn xã hội phức tạp và đập tan các chiến dịch chiến tranh tâm lý từ bên ngoài. Trong những năm đầu sau cách mạng, Cuba phải đối mặt với những lời lên án về việc cư xử tàn nhẫn, có hành vi đàn áp hay thiết lập các trại quản giáo đối với những người đồng tính.
Fidel Castro đã làm sáng tỏ bản chất của vấn đề này dưới một góc nhìn lịch sử thực chứng. Ông bảo đảm chắc chắn rằng chưa bao giờ có sự truy bức có hệ thống hay có trại quản giáo dành riêng cho những người đồng tính. Vấn đề thực chất nảy sinh từ bối cảnh đất nước nằm trong nguy cơ xâm lược rõ ràng của Mỹ, với cuộc chiến tranh bẩn thỉu, sự kiện xâm nhập bãi biển Girón và cuộc Khủng hoảng tháng 10 buộc chính phủ phải động viên gần như toàn bộ nguồn lực quốc gia. Chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc được ban hành trong bối cảnh kỹ thuật quân sự ngày càng tinh vi, đòi hỏi trình độ văn hóa cao, ít nhất phải từ lớp bảy đến lớp chín, thậm chí phải rút cả sinh viên và những người tốt nghiệp đại học thuộc các ngành khoa học để điều khiển các dàn tên lửa đất đối không phức tạp.
Trong cuộc tổng động viên kéo dài đó, chính quyền Cuba vấp phải ba vấn đề nhân sự lớn:
* Sự thiếu hụt nhân lực trong các ngành kinh tế quan trọng do các đơn vị sản xuất bị rút quá nhiều lao động.
* Tình trạng những người thuộc một số giáo phái tôn giáo không chấp nhận quân kỳ hoặc không chịu tham gia lực lượng vũ trang do nguyên tắc giáo lý.
* Tình cảnh những người đồng tính không được gọi làm nghĩa vụ quân sự do tư tưởng trọng nam khinh nữ và định kiến phản đối sự hiện diện của họ trong quân đội đang thắng thế trong xã hội Cuba thời bấy giờ.
Mâu thuẫn nảy sinh khi việc người đồng tính được loại ra khỏi sự hy sinh lớn lao của nghĩa vụ quân sự đã biến thành một thứ nhân tố gây bức xúc trong công luận, khiến họ bị một số người lấy cớ để đả kích mạnh hơn. Để giải quyết mâu thuẫn này, Fidel Castro đã tập hợp cả ba loại người nói trên vào một lực lượng lao động mang tên Các đơn vị quân sự hỗ trợ sản xuất (UMAP). Lực lượng này không phải là trại kỷ luật hay quản giáo, nhiệm vụ của họ là lao động sản xuất, chủ yếu hỗ trợ nông nghiệp để giúp đỡ đất nước trong hoàn cảnh khó khăn. Họ được hưởng các quyền lợi vật chất hoàn toàn tương đương với hàng chục vạn chiến sĩ trong lực lượng vũ trang.
Tuy nhiên, tài năng của một nhà lãnh đạo chân chính thể hiện ở chỗ ông không né tránh những sai lầm của hệ thống. Trong một chuyến thăm tỉnh Camagüey, khi trực tiếp ghé qua các khu vực sản xuất của UMAP, Fidel Castro đã phát hiện thấy ý tưởng ban đầu bị làm méo mó ở một số nơi do định kiến cố hữu của cán bộ cấp dưới đối với người đồng tính. Ông đã lập tức chỉ thị xem xét lại vấn đề và quyết định chấm dứt mô hình các đơn vị này sau không quá ba năm tồn tại. Từ sự điều chỉnh đó, Đội quân tình nguyện Thanh niên Lao động ra đời, hoạt động hiệu quả suốt 30 năm trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sắt, nhà ở, trường học, mang lại uy tín lớn và đóng vai trò quyết định trong thời kỳ đặc biệt của đất nước.
Fidel Castro thẳng thắn nhận phần trách nhiệm thuộc về mình về những định kiến lịch sử này:
"Không phải tôi tự bào chữa cho mình về những vấn đề đó, tôi nhận phần trách nhiệm thuộc về mình". "Tôi có ý kiến riêng, đúng hơn là tôi phản đối theo bản năng, lúc nào tôi cũng phản đối mọi kiểu lạm dụng, mọi kiểu phân biệt đối xử, bởi vì cái xã hội sinh ra từ sự bất công là xã hội đầy rẫy những định kiến1".
Ông phân tích rõ ràng rằng những người đồng tính là nạn nhân của sự phân biệt đối xử kế thừa từ nền văn hóa cũ. Bằng cách nâng cao trình độ học vấn và văn hóa cho toàn dân, Cách mạng Cuba đang từng bước xóa bỏ tận gốc các định kiến đó, bởi vì trình độ văn hóa càng cao thì sự phân biệt đối xử càng tỷ lệ nghịch. Sự trân trọng của chính quyền dành cho nhiều danh nhân văn hóa, văn học có uy tín lớn là người đồng tính chứng minh tư duy tiến bộ của Fidel Castro trong việc xây dựng một xã hội công minh, nhạy cảm nhất thế giới.
Xóa bỏ phân biệt chủng tộc: Từ biện pháp pháp lý đến cải cách khách quan
Tiếp cận hiện tượng phân biệt chủng tộc dưới góc độ khoa học xã hội, Fidel Castro đã chứng minh một tầm nhìn vượt trước thời đại khi phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm: phân biệt đối xử chủ quan và phân biệt đối xử khách quan. Về mặt chủ quan, người cách mạng nào cũng biết phân biệt chủng tộc là nỗi thống khổ tàn bạo nhất mà xã hội loài người phải gánh chịu, bắt nguồn từ chế độ nô lệ áp đặt bằng máu và lửa đối với những người bị lôi ra khỏi châu Phi. Mặc dù chế độ nô lệ đã bị xóa bỏ ở Cuba từ năm 1886, tức là 120 năm tính đến thời điểm hiện tại, nhưng đó mới chỉ là về mặt hình thức pháp lý.
Fidel Castro chỉ ra một sự thật lịch sử khách quan rằng sau khi giải phóng, những người da đen và lai đen đã phải tiếp tục sống thêm gần ba phần tư thế kỷ trong các lán trại, túp lều rách nát, không trường học, không thầy giáo, phải làm những công việc được trả công rẻ mạt nhất cho đến ngày Cách mạng thắng lợi năm 1959. Sự bất bình đẳng tích tụ qua nhiều thế hệ không thể biến mất chỉ bằng một vài sắc lệnh hành chính. Fidel Castro thừa nhận ban lãnh đạo ban đầu còn khá khờ khạo và ngây thơ khi cho rằng chỉ cần thiết lập sự bình đẳng hoàn toàn trước pháp luật là đủ để chấm dứt tệ phân biệt chủng tộc.
Khi được hỏi liệu ông đã hài lòng với tình hình hiện nay của người dân da đen ở Cuba chưa, ông dứt khoát trả lời:
"Chưa. Nếu bảo rằng hài lòng thì chúng tôi sẽ là tấm gương về sự kiêu căng, tư tưởng nước lớn và tự mãn1".
Sự tự chỉ trích khoa học này dựa trên một phân tích thực chứng sâu sắc về hiện trạng xã hội:
"Tuy đã đem lại nhiều quyền lợi và bảo đảm cho tất cả công dân thuộc mọi sắc tộc và nguồn gốc, Cách mạng vẫn chưa đạt được thành tựu tương xứng trong cuộc đấu tranh xóa bỏ những khác biệt trong hiện trạng xã hội và tình hình kinh tế của người dân da đen trong nước1".
Người da đen ở Cuba trên thực tế vẫn chưa được sống trong những ngôi nhà khá giả, họ vẫn phải làm những công việc nặng nhọc, trả công thấp, và tỷ lệ nhận được kiều hối bằng ngoại tệ từ người thân ở nước ngoài gửi về ít hơn hẳn so với người da trắng. Fidel Castro đã phát hiện ra quy luật xã hội học về mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tri thức, văn hóa và tội phạm:
"Chúng tôi đã phát hiện ra quy luật về mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tri thức, văn hóa và tội phạm, chẳng hạn như càng có tri thức, văn hóa và càng tiếp cận trình độ đại học thì tội phạm càng ít đi". "Càng thiếu văn hóa thì càng nhiều cuộc sống ngoài lề xã hội, nhiều tội phạm và nhiều phân biệt chủng tộc, đúng không?3 ".
Qua điều tra dữ liệu tại các nhà tù, ban lãnh đạo phát hiện một con số chấn động: chỉ có hai phần trưng số tù nhân trong lứa tuổi 20 đến 30 là con em của các nhà chuyên môn và trí thức, trong khi đại đa số phạm nhân đều xuất thân từ các khu nhà gọi là ngoài lề xã hội, con em của những gia đình nghèo khổ từng phải chung sống trong cùng một căn phòng bị lãng quên từ chế độ cũ. Xây nhà mới là chưa đủ, vì một thứ văn hóa ngoài lề luôn có xu hướng kéo dài và tự tái sản sinh qua các thế hệ, trừ phi có một nền văn hóa mới được hình thành từ sự hiểu biết và giáo dục triệt để.
Fidel Castro cũng phản đối mạnh mẽ việc các chương trình truyền hình vô tình gắn mác tội phạm cho một nhóm sắc tộc khi liên tục đưa hình ảnh những thanh niên da đen, lai đen phạm tội trộm cắp thông thường lên màn hình để chứng tỏ hiệu quả của cảnh sát. Ông phân tích rằng có hai loại trộm cắp: loại trộm cắp thông thường do những kẻ nghèo khó nhất mắc phải khi đột nhập vào nhà dân, và thứ trộm cắp cổ cồn, cà vạt của những kẻ quản lý ăn cắp của xã hội một cách tinh vi mà chẳng ai biết. Việc chỉ đưa loại trộm cắp thông thường lên truyền hình sẽ vô tình phục vụ cho định kiến sai lầm rằng tội phạm gắn liền với sắc tộc da màu.
Để sửa chữa việc này, Fidel Castro đã triển khai 106 chương trình trong Cuộc chiến tư tưởng, tập trung tạo điều kiện đặc biệt cho thanh niên da đen và lai đen tiếp cận giáo dục đại học. Trước đây, chế độ nghĩa vụ quân sự đại trà quy định rút ngắn thời gian từ ba năm xuống hai năm đối với thanh niên có trình độ tú tài, điều này vô tình tạo lợi thế cho con em các gia đình có địa vị xã hội và trình độ văn hóa cao hơn, những người dễ dàng vượt qua các kỳ thi tuyển. Cách mạng đã điều chỉnh bằng cách cho thanh niên xuất thân nghèo khó học nội trú một năm ở các lớp cấp tốc để ôn lại kiến thức, giúp họ bước vào giảng đường đại học một cách bình đẳng. Trong tất cả các trường sư phạm mới mở, các chương trình đào tạo cán bộ giảng dạy nghệ thuật tại các tỉnh miền Đông, nơi người da đen chiếm đến 70% dân số như Guantánamo, thành phần sắc tộc và tài năng luôn được lưu ý đặc biệt để đảm bảo công lý khách quan được thực thi một cách trọn vẹn.
Chiến lược giải phóng phụ nữ và phá vỡ tư tưởng trọng nam khinh nữ
Đấu tranh chống lại tư tưởng trọng nam khinh nữ, một tàn dư nặng nề được kế thừa và ươm trồng trong xã hội tư bản cũ, là một nhiệm vụ khó khăn đòi hỏi những bước đi chiến lược mang tính khoa học của Fidel Castro. Ngay từ thời kỳ chiến đấu gian khổ ở Sierra Maestra, ông đã có một cảm nhận khác biệt và tình cảm đoàn kết sơ bộ trước cảnh phụ nữ bị phân biệt đối xử trong xã hội bóc lột. Ông đã trực tiếp huấn luyện và tổ chức một trung đội nữ chiến sĩ mang tên Nữ chiến sĩ Marianas để chứng minh cho toàn quân thấy rằng phụ nữ có thể trở thành những chiến sĩ giỏi như đàn ông.
Tinh thần và thái độ tuyệt vời của họ trên chiến trường đã đập tan những định kiến hẹp hòi của các nam binh sĩ. Khi có người ghen tị phản đối việc giao vũ khí hạng nhẹ khẩu M-1 cho phụ nữ, Fidel Castro đã thẳng thắn trả lời:
"Này, cậu biết vì sao không? Mình giải thích cho cậu hiểu nhé, chỉ vì họ là những chiến sĩ giỏi hơn cậu1".
Sau khi cách mạng thành công, để hiện thực hóa sự bình đẳng này trong đời sống dân sự, chính quyền Cuba đã ban hành một đạo luật có tính đạo đức mang tính cách mạng là Luật Gia đình. Đạo luật này quy định rõ ràng đàn ông phải có nghĩa vụ pháp lý và đạo đức chia sẻ với phụ nữ công việc nhà, việc nấu nướng và chăm sóc con cái, phá vỡ cấu trúc gia trưởng truyền thống.
Sự tiến bộ vượt bậc này được thể hiện rõ qua những số liệu thống kê khoa học:
* Phần đông những người được vào đại học ở Cuba hiện nay là nữ, vì ở lứa tuổi trung học cơ sở và trung học phổ thông, con gái thể hiện sự chăm học và có điểm học bạ cao hơn nam giới.
* Khi tuyển sinh vào ngành Y dựa theo tiêu chuẩn học bạ công bằng, cứ ba người đạt điểm cao thì có đến hai người là nữ.
* Chính phủ thậm chí đã phải áp dụng quy định hạn ngạch điều chỉnh là 45% nam và 55% nữ đối với một số ngành nghề để cân bằng cơ cấu xã hội.
* Phụ nữ chiếm tới 65% lực lượng kỹ thuật và khoa học khoa học trong toàn quốc, một tỷ lệ áp đảo chứng minh họ đã tự mở rộng con đường thăng tiến cho chính bản thân mình.
Fidel Castro hóm hỉnh nhận xét rằng sự thăng tiến mạnh mẽ của phụ nữ trong suốt 46 năm qua có lẽ sẽ dẫn đến việc trong tương lai cần phải thành lập một Hội Liên hiệp nam giới Cuba để tự bảo vệ mình. Đi đôi với việc tạo điều kiện cho phụ nữ thăng tiến nghề nghiệp, chính sách của Fidel Castro bảo vệ thiên chức sinh đẻ của họ bằng quy định cho nghỉ một năm hưởng nguyên lương để nuôi con bằng sữa mẹ. Phân tích từ dữ liệu tội phạm học cho thấy, trong số thanh niên phạm tội thì có tới 19% không sống cùng cha hoặc mẹ do gia đình ly tán, và sự tách rời gia đình của trẻ em là chiều hướng dẫn tới bỏ bê học tập rồi dẫn đến ngồi tù. Nếu người mẹ có trình độ văn hóa, nghề nghiệp chuyên môn tốt chăm lo cho con cái, tác động tiêu cực của việc ly hôn sẽ giảm đáng kể và hầu như không có sự phạm tội xảy ra. Cuba tự hào là quốc gia mang tư tưởng trọng nam khinh nữ ít nhất tại bán cầu nhờ vào những chiến lược toàn diện này.
Tư duy biện chứng về tôn giáo: Phá vỡ ranh giới ý thức hệ
Trong lịch sử các cuộc cách mạng xã hội triệt để thế giới, xung đột giữa chính quyền mới và các định kiến chống chủ nghĩa xã hội của giáo hội tôn giáo luôn là một điểm nóng gây bùng nổ bạo lực. Cách mạng Pháp năm 1789 là một cuộc cách mạng chống Công giáo mạnh mẽ do tầng lớp trên của giáo hội đi với thế lực phong kiến. Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Cách mạng Mêhicô năm 1910 và cuộc Nội chiến Tây Ban Nha đều chứng kiến những cảnh tượng bắn giết lẫn nhau khốc liệt trong phạm vi tôn giáo, nơi những người Công giáo bị hành hình ở khắp nơi.
Tài năng xuất chúng và sự khác biệt mang tính nguyên tắc của Fidel Castro là đã đưa Cách mạng Cuba trở thành một trường hợp ngoại lệ duy nhất trong lịch sử:
"Chúng tôi thuộc trường hợp ngoại lệ. Và điều đó cũng chứng tỏ là chúng tôi đã và đang tuên theo những quan điểm và nguyên tắc chính trị, đạo đức nhất định". "Đây là cuộc cách mạng triệt để duy nhất chưa xử bắn cố đạo1".
Khi đối phương cố tình sử dụng các biện pháp quốc hữu hóa toàn bộ ngành giáo dục để vu khống Cách mạng Cuba là cuộc cách mạng chống tôn giáo, Fidel Castro đã bóc trần sự thật rằng chính phủ quốc hữu hóa toàn bộ hệ thống trường học chứ không hề phân biệt đối xử riêng với các trường của Nhà thờ Thiên chúa giáo. Sự tỉnh táo chính trị của ông thể hiện ở việc không bao giờ để chính quyền rơi vào bẫy khiêu khích của đế quốc, ông hiểu rằng nếu có một vị cố đạo nào bị tử hình, họ sẽ ngay lập tức đưa ông ta lên đài liệt sĩ để làm món quà tuyên truyền cho đế chế, gây tổn thương sâu sắc đến đức tin của nhiều tín đồ trung thực trong nước và trên thế giới.
Mối quan hệ giữa Cách mạng Cuba và Công giáo có những giai đoạn phức tạp khi một số cố đạo và tầng lớp giáo phẩm ở Cuba lẫn Miami liên đới vào chiến dịch phản cách mạng Peter Pan, lừa dối các gia đình trung lưu đưa 14 ngàn trẻ em sang Mỹ một mình. Ngay cả trong cuộc tiến công bãi biển Girón, đi cùng với lính đánh thuê cũng có các cha tuyên úy của đối phương. Một số người đã bị trừng phạt vì tội phản cách mạng nhưng Fidel Castro đã chủ động áp dụng chính sách khoan hồng, không để họ phải ngồi lâu trong tù và không đào bới lại những chuyện đau lòng đó. Ông luôn trân trọng nhắc về cha Guillermo Sardiñas, vị cha tuyên úy đã gia nhập nghĩa quân ở Sierra Maestra, được thăng cấp đến hàm tư lệnh và mặc đồng phục màu xanh ô liu như một biểu tượng của sự hòa hợp.
Về mặt tổ chức Đảng, ban đầu Cuba đưa ra quy định khắt khe không kết nạp các tín đồ tôn giáo do lo ngại nguy cơ có xung đột nội tại về sự trung thành của đảng viên. Fidel Castro thừa nhận ông có phần trách nhiệm lớn trong nguyên tắc loại trừ này khi thành lập Đảng. Tuy nhiên, ông cũng chính là người đầu tiên kiên trì mất nhiều công sức và vất vả trong nhiều năm để bảo vệ luận điểm cần phải mở rộng cửa Đảng cho các tín đồ tôn giáo thắng thế.
Tư duy biện chứng của Fidel Castro về tôn giáo được hình thành qua hơn 30 năm tiếp xúc và nghiên cứu sâu sắc về Thần học Giải phóng. Từ cuộc hội kiến đầu tiên với đại diện trường phái này vào năm 1971 tại Chile, thảo luận suốt nhiều giờ với các thầy tu và nhà truyền giáo tại Đại sứ quán Cuba, ông đã đưa ra ý tưởng mang tính nền tảng:
"Sự đoàn kết giữa những người mácxít và các tín đồ tôn giáo cùng nhau thúc đẩy Cách mạng tiến lên1".
Ông kiên định bảo vệ và tuyên truyền ý tưởng chiến lược này ở bất cứ nơi nào ông đến, từ chuyến thăm Salvador Allende ở Chile năm 1971 đến cuộc gặp Michael Manley ở Giamaica năm 1977, hoàn toàn đồng tình với khẩu hiệu của Phong trào Sandino: "Giữa Đạo Cơ đốc và Cách mạng không có mâu thuẫn". Fidel Castro nhận thức rõ ràng rằng việc đấu tranh với những định kiến cũ và đức tin mới nảy sinh trong nội bộ Đảng không phải là chuyện dễ dàng, cần phải đấu tranh vất vả để thay đổi tư tưởng cũ. Sự thay đổi cách mạng ở Tây bán cầu đòi hỏi một khối liên minh chiến lược, lâu dài giữa những người mácxít và những người Cơ đốc giáo chân chính, một tầm nhìn nhân văn, toàn diện đưa Cuba vượt qua mọi thác ghềnh lịch sử.
Nhìn lại chặng đường đầy cam go trong những bước đi đầu tiên của Cách mạng Cuba, tài năng và phẩm chất lãnh đạo cá nhân của Fidel Castro chính là ngọn hải đăng định hình hướng đi cho cả một dân tộc. Bằng việc đặt lợi ích của đại cuộc cách mạng lên trên hết, khước từ mọi tước vị cá nhân một cách vô tư, ông đã xây dựng được một chính quyền chính danh, liêm chính và thu phục trọn vẹn nhân tâm. Sự vững vàng của chính thể Cuba, tinh thần kiên cường trụ vững độc lập ngay cả khi đồng minh chiến lược Xô viết sụp đổ, đã chứng minh tính đúng đắn và tầm nhìn vượt thời gian trong các quyết sách của ông.
Fidel Castro không chọn con đường quản trị bằng bạo lực hay áp đặt ý thức hệ giáo điều; thay vào đó, ông giải quyết các thách thức xã hội bằng một tư duy duy vật biện chứng, khoa học và đậm tính nhân văn học thuật. Việc dũng cảm nhìn thẳng vào những sai lầm chủ quan, chấn chỉnh kịp thời các lệch lạc của hệ thống và liên tục đào sâu nghiên cứu bản chất các quy luật xã hội đã giúp Cuba tạo nên những kỳ tích về bình đẳng chủng tộc, giải phóng phụ nữ và hòa hợp tôn giáo. Năng lực chèo lái xuất sắc của Fidel Castro trong giai đoạn ban đầu đầy gian khó không chỉ bảo vệ vững chắc thành quả của nghĩa quân Sierra Maestra mà còn để lại một bài học kinh điển cho lịch sử chính trị thế giới về nghệ thuật tập hợp lực lượng và gìn giữ khối đại đoàn kết toàn dân./.
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr289
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr290
2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr290
3 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr290
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr291
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr291-292
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr292
2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr293
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr294
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr295
2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr296
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr296
2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr297
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr301-302
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr307
3 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr308
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr315
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr321
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr303