Dưới góc độ nhân học văn hóa, sử học và kinh tế học di sản, hành trình của hạt muối từ những ô nề phơi cát chan hòa mồ hôi của người lao động ven biển cho đến không gian thiêng liêng trên mâm cỗ gia đình đã phản ánh một hệ giá trị đạo lý, ứng xử và sự gắn kết cộng đồng bền chặt qua nhiều thế kỷ.
Theo các báo cáo từ Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan liên quan, ngành muối giữ vai trò là một cấu phần di sản sống động của đời sống nông thôn ven biển, gắn liền với sinh kế của đồng bào các địa phương trọng điểm như Ninh Bình, Nghệ An, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Vĩnh Long hay Cà Mau. Các số liệu thống kê kinh tế nông nghiệp cho thấy diện tích sản xuất muối toàn quốc có thời điểm duy trì trên hàng nghìn hécta với sự tham gia của hàng vạn hộ diêm dân, đóng góp trực tiếp vào chuỗi giá trị nông sản quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, bảo vệ hệ sinh thái biển đảo và bảo đảm an ninh môi trường tại các địa phương trong bối cảnh hội nhập. Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu thấu đáo chiều sâu văn hóa và giá trị lịch sử của hạt muối giúp tôn vinh trí tuệ bản địa, đồng thời tạo ra nền tảng nhận thức vững chắc cho việc triển khai các chiến lược phát triển ngành muối đa giá trị theo định hướng quy hoạch quốc gia và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 24 tháng 8 năm 2023 về việc phê duyệt Đề án phát triển ngành muối đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Hạt muối trong hệ giá trị ứng xử, đạo lý và tín ngưỡng dân gian
Xét từ góc độ văn hóa ứng xử và đạo lý truyền thống, kho tàng ca dao, tục ngữ và văn học dân gian Việt Nam đã lưu giữ vô số hình ảnh gắn kết giữa muối với tình nghĩa con người, minh chứng cho chiều sâu tâm thức của dân tộc. Câu ca dao "tay nâng chén muối đĩa gừng" không chỉ biểu thị một sản vật dân dã trong bữa ăn nghèo khó của người nông dân xưa, mà đã được nâng tầm thành một biểu tượng bất hủ về sự thủy chung, tình nghĩa phu thê sắt son và đạo lý uống nước nhớ nguồn trong các mối quan hệ xã hội. Các công trình nghiên cứu văn hóa dân gian chỉ ra rằng, trong nhận thức của người Việt, vị mặn của muối đại diện cho sự bền vững, không phai nhạt trước những biến đổi của thời gian và không gian.
Sự hiện diện của muối trong các nghi lễ vòng đời như lễ ăn hỏi, lễ cưới, lễ tế tổ tiên hay các dịp lễ tết nguyên đán thể hiện ước vọng về một cuộc sống đủ đầy, sự hòa hợp âm dương trong vũ trụ quan truyền thống. Theo các tài liệu lưu trữ về phong tục tập quán, trong tín ngưỡng dân gian, hạt muối còn mang ý nghĩa thanh tẩy, bảo vệ không gian sống khỏi những trược khí, thể hiện sự kính trọng đối với đất trời và trân quý những sản vật do mồ hôi công sức lao động con người tạo ra. Những giá trị này đã vượt qua ranh giới của một vật phẩm tiêu dùng để trở thành một mã văn hóa đặc thù, kết nối các thế hệ trong cộng đồng người Việt qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Các chuyên gia văn hóa và nhà quản lý chính sách thường nhấn mạnh rằng, việc bảo tồn những giá trị phi vật thể này chính là điểm tựa tinh thần quan trọng để nâng cao nhận thức cộng đồng về phát triển nghề muối đa giá trị trong nhịp sống mới.
Tri thức bản địa và thực tiễn lao động nhọc nhằn của diêm dân qua các vùng miền
Bên cạnh chiều sâu văn hóa, giá trị của hạt muối còn được định hình bởi kho tàng tri thức bản địa và quá trình lao động nhọc nhằn của hàng vạn diêm dân dọc chiều dài dải đất hình chữ S. Theo các báo cáo từ Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan liên quan, nghề muối là một cấu phần trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế nông thôn, góp phần bảo đảm sinh kế cho các hộ gia đình ven biển tại các vùng sản xuất trọng điểm. Các dữ liệu quản lý nhà nước cũng chỉ ra rằng phương thức sản xuất muối thủ công truyền thống đòi hỏi sự thấu hiểu sâu sắc về các quy luật tự nhiên, bao gồm chế độ thủy triều, cường độ bức xạ mặt trời với số ước tính giờ nắng trung bình cao tại các tỉnh miền Trung, độ mặn của nguồn nước biển cho đến các kỹ thuật san cát, nện ô nề và kết tinh hạt muối.
Thực tiễn từ các vùng diêm nghiệp lớn trên cả nước cho thấy sức lao động bền bỉ của người diêm dân. Tại miền Bắc, các vùng sản xuất như Ninh Bình mang đậm dấu ấn văn hóa châu thổ với các mô hình sản xuất gắn liền với sinh thái và du lịch. Chuyển vào dải đất miền Trung, Nghệ An nổi tiếng với những ô nề muối chắt chiu từ tình đất tình người, nơi giọt mồ hôi của diêm dân hòa quyện cùng cái nắng gió khắc nghiệt của miền Trung. Trong khi đó, tại phương Nam, Cà Mau lại mang bản sắc độc đáo của nghề làm muối kết hợp với nuôi trồng thủy sản trên vùng đất mặn. Những kinh nghiệm quý báu được đúc kết qua nhiều thế hệ từ các diêm dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chính là minh chứng sinh động cho năng lực thích ứng và sáng tạo của con người Việt Nam trước những biến đổi của thời tiết và điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên, theo các đánh giá từ cơ quan quản lý nhà nước và các chuyên gia cố vấn, phương thức sản xuất truyền thống này hiện đang đối mặt với nhiều thách thức lớn về năng suất lao động, sự chi phối của thời tiết và áp lực cạnh tranh trên thị trường. Do đó, việc nghiên cứu, bảo tồn tri thức bản địa gắn liền với việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật là yêu cầu cấp thiết nhằm duy trì sinh kế bền vững cho người làm muối, đồng thời tạo ra nguồn nguyên liệu chất lượng cao phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến và tiêu dùng hiện đại.
Định hướng phát triển ngành muối và bài toán chuyển đổi mô hình đa giá trị
Trong giai đoạn phát triển mới, ngành muối Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải chuyển mình mạnh mẽ từ phương thức sản xuất truyền thống sang mô hình kinh tế đa giá trị, gắn kết chặt chẽ với chuỗi giá trị nông nghiệp, du lịch trải nghiệm và chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Các văn bản chỉ đạo, định hướng chiến lược từ Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan liên quan, tiêu biểu như Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 24 tháng 8 năm 2023 về việc phê duyệt Đề án phát triển ngành muối đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường truyền thông đa nền tảng, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm và ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao giá trị gia tăng của hạt muối.
Việc kết hợp hài hòa giữa giá trị văn hóa truyền thống, tri thức bản địa và tư duy kinh tế hiện đại sẽ giúp hạt muối Việt Nam không chỉ giữ vững bản sắc mà còn vươn xa trên thị trường quốc tế. Các giải pháp đồng bộ từ việc xây dựng mô hình liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ muối gắn với OCOP, xây dựng chỉ dẫn địa lý, phát triển du lịch sinh thái đồng muối cho đến việc ứng dụng tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm sẽ góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho cộng đồng diêm dân tại các tỉnh trọng điểm. Qua đó, hạt muối tiếp tục khẳng định sứ mệnh lịch sử của mình, vừa là nhân chứng của văn hóa truyền thống, vừa là động lực phát triển kinh tế biển đảo bền vững trong nhịp sống mới của đất nước.