Quảng cáo #38

Tư duy quân sự phản kinh viện của Fidel Castro qua biến cố Girón năm 1961

Giai đoạn đầu thập niên 1960, cục diện chiến tranh lạnh chuyển sang trạng thái đối đầu căng thẳng và gay gắt nhất, trong đó vùng biển Caribe trở thành một trong những tâm điểm của thế giới. Sự thành công của Cách mạng Cuba vào năm 1959 đã thiết lập một tiền đồn cách mạng ngay tại Tây bán cầu. Đối mặt với sự tồn tại của một chính quyền cách mạng non trẻ mang khuynh hướng độc lập tự chủ sâu sắc, chính giới và các cơ quan tình báo chiến lược của Mỹ đã lập tức vạch ra những kế hoạch toàn diện nhằm bóp nghẹt, lật đổ và tiêu diệt thành quả cách mạng này.

 

Nhà lãnh đạo Fidel Castro phát biểu trước các phóng viên sau khi tham dự phiên họp tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ở thành phố New York (Mỹ) vào ngày 28/9/1960.

Chiến dịch xâm lược bãi biển Girón, Vịnh Con Lợn, vào tháng 4 năm 1961 không thuần túy là một trận đánh quân sự cục bộ, đó là điểm hội tụ của các học thuyết chính trị, phương thức chiến tranh bất đối xứng, và các âm mưu tình báo tinh vi do cơ quan tình báo trung ương Mỹ, CIA, đạo diễn. Bản văn kiện lịch sử Fidel 11 là một tài liệu gốc vô giá, ghi lại một cách chân thực, sinh động nhưng cũng đầy tính hệ thống lý luận thông qua những lời thuật lại trực tiếp của lãnh tụ Fidel Castro.

Dưới góc độ của khoa học lịch sử hiện đại và lý luận quân sự chuyên sâu, văn bản này không chỉ là những dòng hồi ức chiến trường thông thường, mà nó phản ánh một cách toàn diện tư duy chiến lược tầm vóc, nghệ thuật cầm quân phản kinh viện, bản lĩnh ngoại giao thượng thừa và trên hết là chủ nghĩa nhân đạo cách mạng vô song của Fidel Castro. Bài viết này sẽ tiến hành mổ xẻ, phân tích, trích dẫn thực chứng và bình luận hệ thống từng khía cạnh nội dung cốt lõi từ văn bản nhằm làm rõ vai trò quyết định mang tính lịch sử của ông trong giai đoạn bản lề này.

Nghệ thuật phản công chớp nhoáng và tư duy phản kinh viện

Bản chất chiến thuật của đối phương và sự nhạy bén của người chỉ huy

Theo dữ liệu lịch sử từ văn bản, cuộc can thiệp quân sự ngày 17 tháng 4 năm 1961 tại bãi biển Girón được tiến hành bởi một lực lượng viễn chinh sừng sỏ gồm khoảng 1.500 lính đánh thuê do CIA trực tiếp huấn luyện. Lực lượng này được tổ chức chặt chẽ thành bảy tiểu đoàn, mỗi đơn vị gồm 200 người, vận chuyển bằng năm tàu chở hàng lớn. Để tạo thế gọng kìm và bảo đảm sự liền mạch cho cuộc đổ bộ đường biển, ngay từ rạng sáng, địch đã cho ném một tiểu đoàn lính dù xuống khu vực đầm lầy Zapata nhằm đánh chiếm hai con đường huyết mạch dẫn vào địa điểm đổ bộ.

Sự nguy hiểm và quy mô của chiến dịch này còn nằm ở chỗ, ngay phía sau đội quân đánh thuê là sự hiện diện của hải đội chiến hạm Mỹ, tiêu biểu là tàu sân bay “USS Essex”, đậu cách bờ biển Cuba chỉ vài dặm. Lính thủy đánh bộ Mỹ ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị đổ bộ yểm trợ ngay khi cái gọi là “Chính phủ lâm thời” phản cách mạng thiết lập được đầu cầu và đưa ra yêu cầu can thiệp chính thức. Thêm vào đó, lực lượng xâm lược còn sở hữu một phi đội máy bay oanh kích B26 nguy hiểm do các phi công Mỹ và phi công của chế độ Batista cũ điều khiển. Trước đó, vào ngày 15 tháng 4, các máy bay này đã ngụy trang bằng cách sơn cờ hiệu Cuba để bất ngờ oanh tạc các căn cứ không quân non trẻ của Cuba nhằm triệt hạ khả năng phòng không của quân cách mạng.

Đối diện với một kịch bản xâm lược toàn diện và tinh vi như vậy, vai trò tổng chỉ huy của Fidel Castro trước hết thể hiện ở khả năng nhận diện địa chính trị và địa hình quân sự một cách xuất sắc. Kẻ địch lựa chọn bãi biển Girón, một địa điểm biệt lập, bị ngăn cách với phần còn lại của đảo quốc bởi một vùng đầm lầy rộng lớn. Ý đồ chiến thuật của CIA là biến địa hình này thành một pháo đài tự nhiên, ép quân phản công của Cuba phải tiến lên bằng hai con đường duy nhất chạy qua 10km đầm lầy độc đạo. Tình huống hiểm nghèo này được Fidel ví một cách hình tượng trong tài liệu:

Tình huống này đã biến hai con đường đó thành một loại đường độc đạo qua đèo Termopilas1”.

Tuy nhiên, thay vì sa vào sự do dự hay áp dụng các biện pháp phòng ngự thụ động theo sách vở, Fidel Castro đã đưa ra quyết định chiến lược: Phản công chớp nhoáng, liên tục, không cho địch thời gian củng cố đầu cầu. Sức mạnh tổng lực của quân đội khởi nghĩa và lực lượng dân quân tự vệ dưới sự chỉ huy trực tiếp của Fidel đã biến trận đánh thành một cuộc đối đầu khốc liệt kéo dài liên tục suốt 60 giờ đồng hồ, từ rạng sáng ngày 17 đến đúng 6 giờ chiều ngày 19 tháng 4. Chỉ đạo mang tính quyết định của Fidel trong giai đoạn này được ông hồi tưởng rõ ràng:

Chúng tôi không muốn để cho hải đội Mỹ cứu thoát bọn chúng2”. “Bọn lính đánh thuê được huấn luyện tốt, có vũ khí tốt, nhưng chúng tôi dùng đòn tấn công, tấn công, và tấn công cả ngày lẫn đêm, chúng tôi đã đánh bại cuộc xâm lược đế quốc3”.

Sự quyết đoán này đã bẻ gãy hoàn toàn ý đồ kéo dài thời gian của Mỹ để kịp đưa chính phủ bù nhìn vào nội địa.

Sự dũng cảm cá nhân và phong cách lãnh đạo nơi đầu sóng ngọn gió

Một trong những điểm đặc sắc nhất tạo nên uy tín và năng lực cầm quân của Fidel Castro chính là sự hiện diện trực tiếp của ông tại những tọa độ khốc liệt nhất của chiến trường. Văn bản gốc đã cung cấp những chi tiết mang tính lịch sử đầy chân thực, Fidel không điều hành chiến dịch từ những căn hầm chỉ huy an toàn ở La Habana, ông trực tiếp có mặt cùng những chiến sĩ đầu tiên tiến vào khu vực Girón.

Khi trận tấn công cuối cùng diễn ra vào lúc xẩm tối nhằm ngăn chặn tối đa khả năng hải đội Mỹ can thiệp cứu thoát bọn lính đánh thuê, Fidel nhận được thông tin về việc kẻ địch bố trí một phòng tuyến chống tăng bằng pháo không giật 105mm nguy hiểm. Ngay lập tức, ông đưa ra mệnh lệnh trực tiếp tại hiện trường được ghi nhận nguyên văn:

Tôi đã cử ba người chỉ huy quan trọng lên ba chiếc tăng ở gần nhất, loại T-34, và yêu cầu họ tiến thật nhanh về phía đó4”.

Sự quyết liệt của Fidel thể hiện qua việc ông tiễn chân họ trong đêm tối, thậm chí bản thân ông đã ngã xuống đất dưới trận oanh kích dữ dội từ chính pháo binh của quân cách mạng do tình trạng nhiễu loạn thông tin chiến trường. Khi không quân báo cáo địch đang đổ thêm quân, với nhãn quan chiến thuật sắc bén, Fidel nhận định và chỉ đạo ngay:

Không, chúng đang rút chạy về tàu đó”. “Tôi chỉ thị cho pháo binh bắn một vài loạt trên đất liền, và vài loạt khác xuống biển, lúc đó, chúng tôi có khá nhiều pháo, cùng với nguyên một khẩu đội pháo cối 122 ly đang hoạt động1”.

Sự dũng cảm đỉnh điểm của vị tổng chỉ huy được minh chứng khi ông không chịu ngồi yên chờ đợi trung đội xe tăng hạng nặng pháo 122 ly đang bị chậm trễ. Ông thuật lại hành động mang tính bước ngoặt của mình:

Tôi hỏi họ ra sao, và được biết họ bị chậm, sẽ đến muộn. Tôi nhảy đại lên một trong những chiếc tăng đang đỗ ở đấy, hóa ra đó là chiếc xe tăng trang bị pháo tự hành 100 ly SU-100, vì trời đã tối, hầu như không nhận ra được một chiếc tăng, và tôi cũng ra lệnh lao tới hết tốc độ2”.

Fidel hoàn toàn không hề biết rằng chiếc xe bọc thép đó đã chiến đấu suốt buổi chiều và gần như đã cạn kiệt đạn dược, chỉ còn từ ba đến năm quả đạn.

Hình ảnh mang tính biểu tượng lịch sử, ảnh Fidel Castro nhảy từ trên xe tăng xuống đất tại bãi biển Girón, không phải là một sự dàn dựng truyền thông, mà đó là kết quả tất yếu của một phong cách cầm quân lăn lộn thực tế, dấn thân cùng xương máu của chiến sĩ. Phong cách này tạo ra một động lực tinh thần to lớn, kích hoạt triệt để ý chí chiến đấu độc lập và sức mạnh nội sinh của quân và dân Cuba.

Tư duy phản kinh viện và bài học thực tiễn từ cuộc "chiến tranh bẩn thỉu"

Bên cạnh chiến thắng quân sự chớp nhoáng tại Girón, còn mở ra một góc nhìn lý luận sâu sắc của Fidel Castro về tư duy quân sự hiện đại thông qua cuộc đối đầu với cái gọi là “chiến tranh bẩn thỉu” do Mỹ phát động tại các tỉnh thành, đặc biệt là vùng núi Escambray.

Fidel Castro đã thẳng thắn bộc lộ một tư tưởng mang tính cách mạng trong khoa học quân sự, chống chủ nghĩa kinh viện và giáo điều hàn lâm. Lời chỉ đạo mang tính triết lý quân sự của ông được khắc họa rõ nét:

Đã có lúc người ta bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa kinh viện, và chủ nghĩa kinh viện đã làm cho con người hơi xa rời cái tốt nhất mà Cách mạng tạo ra, đó là tinh thần sáng tạo về chiến thuật và các công thức chính trị và quân sự dẫn tới thắng lợi. Nếu anh để các giáo điều trong sách của viện hàn lâm chi phối, thì anh sẽ thất bại. Thực sự là tôi đã luôn luôn có một tư duy phản kinh viện1”.

Tư duy phản kinh viện này được Fidel chứng minh qua cách ông phân tích và giải quyết cuộc chiến tranh không chính quy. Người Mỹ sau khi chứng kiến Cuba lật đổ chế độ Batista bằng sự kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh quần chúng, đã nhanh chóng áp dụng ngược lại chiến thuật này bằng cách xây dựng các nhóm phỉ, nhóm du kích phản động chống lại chính quyền cách mạng. Đây là lần đầu tiên họ áp dụng chiến thuật này trên quy mô lớn, biến toàn bộ đất nước Cuba, từ các ruộng mía đến bụi rậm, thành một chiến trường không tiếng súng chính quy.

Dưới góc nhìn chuyên gia lịch sử, sự thiên tài của Fidel nằm ở chỗ ông nhận ra bản chất của cuộc chiến tranh này không thể giải quyết bằng các công thức quân sự cứng nhắc trong sách vở Liên Xô thời bấy giờ, vốn rất chậm chạp và cứng nhắc so với sự linh hoạt của giới quân sự Mỹ. Bài học đắt giá nhất được Fidel nêu lên khi so sánh với thất bại của những người Sandinit ở Nicaragoa trong những năm 1980 trước lực lượng "Contra". Người Sandinit đã phạm sai lầm khi thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc, huấn luyện các thanh niên trẻ rồi đưa họ ra chiến trường nội chiến. Khi những người lính nghĩa vụ này ngã xuống, gia đình họ sẽ nảy sinh tâm lý oán trách Nhà nước và Cách mạng, từ đó làm xói mòn nền tảng chính trị của chế độ.

Ngược lại, Cuba dưới sự dẫn dắt của Fidel đã giải quyết cuộc "chiến tranh bẩn thỉu" bằng một công thức hoàn toàn khác, chỉ huy động lực lượng tình nguyện dựa trên ý thức tự nguyện. Chỉ đạo thực tiễn của Fidel được trích dẫn cụ thể:

Khi sử dụng các đơn vị quân nghĩa vụ vào trận chiến chống “chiến tranh bẩn thỉu”, những lính nghĩa vụ tình nguyện nào mới được huy động tham gia xuất phát từ quan điểm: dù là trận chiến ở trong nước hay làm nghĩa vụ quốc tế, các chiến sĩ phải là những người tình nguyện... Có thể, những người Sandinit đã phải trả cái giá cao nhất của cuộc “chiến tranh bẩn thỉu này” là vì họ đã thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự, một việc mà chúng tôi không bao giờ làm để chiến đấu chống lại các băng nhóm trong cuộc “chiến tranh bẩn thỉu”2”.

Tại vùng núi Escambray, nơi cách mạng không có sự ủng hộ của nông dân, chỉ đạt khoảng 80% do tàn dư của các nhóm chống Batista cũ, Fidel đã áp dụng chiến thuật bao vây chia cắt khu vực làm bốn phần, bố trí một tiểu đội trong từng căn nhà của mỗi khu vực để truy quét kiên trì. Ông nhận diện rất rõ biệt tài lẩn trốn, đào hầm ngầm có hệ thống thông hơi phức tạp của bọn phỉ Escambray. Do đó, thay vì áp dụng các vòng vây lỏng lẻo ban đêm vốn dễ bị bẻ gãy bằng lựu đạn, quân cách mạng đã tiến hành rà quét tỉ mỉ theo phương thức: mỗi chiến sĩ có nhiệm vụ rà soát kỹ từng 10 mét vuông bề mặt. Sự kiên trì, linh hoạt và chiến thuật bám sát, liên tục chủ động tấn công được ông đúc kết nguyên văn:

Sự khác nhau giữa cuộc chiến tranh không chính quy của chúng tôi và cuộc chiến tranh của bọn chúng tiến hành ở đây là ở chỗ chúng tôi luôn luôn trong thế hành động, theo dõi kẻ địch để tấn công nó ở một vị trí cố định hoặc đang vận động... đường lối của chúng tôi, ngay cả khi chúng tôi có ít người, là đánh và đánh1”.

Sự kiên quyết bài trừ giáo điều này tiếp tục được Fidel mở rộng sang thời đại của vũ khí công nghệ cao, máy bay tàng hình và tên lửa thông minh. Ông khẳng định rằng nếu một quân đội cứ khư khư giữ các nguyên tắc phòng thủ cũ kỹ từ những năm 1959, 1960 trước các loại vũ khí chính xác có khả năng phá hủy mục tiêu từ khoảng cách 6-7 km thì việc chuốc lấy thất bại là điều hiển nhiên. Vũ khí hiện có phải được sử dụng bằng một tư duy sáng tạo, đặt hiệu quả thực tế lên trên mọi công thức hàn lâm viện sách vở.

Đạo đức cách mạng, ý thức chính trị và chủ nghĩa nhân đạo vô song

Biện chứng giữa "Ý thức" và "Kỷ luật" trong quân đội cách mạng

Một trong những đóng góp mang tính triết học sâu sắc của Fidel Castro vào lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng chính là việc xác lập mối quan hệ giữa ý thức và kỷ luật. Văn bản ghi lại lời chỉ đạo mang tính tư tưởng cốt lõi của ông:

Không thể có kỷ luật nếu thiếu ý thức. Điều đó cũng có thể giúp chứng minh tại sao ý thức lại quan trọng hơn bất cứ một thứ kỷ luật nào2”.

Dưới góc nhìn của một chuyên gia khoa học chính trị, kỷ luật trong một quân đội thông thường hay quân đội đế quốc thường được xây dựng trên nỗi sợ hãi hình phạt, sự cưỡng bách hoặc các lợi ích vật chất mang tính thực dụng, như những tên lính đánh thuê được trả tiền để đặt bom đổi lấy vài ngàn đô la. Ngược lại, quân đội cách mạng Cuba được cấu thành từ những con người có ý thức giai cấp sâu sắc: công nhân, nông dân, sinh viên tình nguyện. Họ chiến đấu không phải vì mệnh lệnh cơ giới, mà vì sự thấu hiểu sâu sắc quyền lợi bản thân gắn liền với vận mệnh dân tộc thông qua các chính sách mang lại lợi ích cụ thể cho nhân dân như cải cách ruộng đất, xóa nạn mù chữ, hạ giá điện nước. Chính cái "ý thức" tự giác này đã tạo nên một thứ kỷ luật sắt nhưng lại tự nhiên, giúp họ đứng vững trước những thử thách khắc nghiệt nhất của chiến tranh.

Chủ nghĩa nhân đạo cách mạng trong việc đối xử với kẻ bại trận

Sự vượt trội về mặt đạo đức và ý thức chính trị của Cách mạng Cuba dưới sự rèn luyện của Fidel Castro được thể hiện tập trung và rõ nét nhất ở chính sách đối xử nhân đạo với tù binh chiến tranh. Đây là một hiện tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử chiến tranh nhân loại, đặc biệt là trong bối cảnh một trận chiến khốc liệt nơi máu của quân và dân Cuba đã đổ xuống rất nhiều, với hơn 150 người hy sinh và hàng trăm người bị thương tại Girón, và tổng số hơn 450 đồng chí hy sinh hoặc bị thương trên các mặt trận.

Những lời khẳng định đanh thép của Fidel về việc không hề có bất kỳ một hành vi ngược đãi nào đối với gần 1.200 lính đánh thuê bị bắt làm tù binh:

Tôi đã nói chuyện nhiều với họ, bởi vì tôi đã tham gia bắt một số, và tôi có thể nói với anh, có thể cũng là một trường hợp duy nhất trong lịch sử, là sau trận chiến đấu ác liệt đó, không hề có một cú đập báng súng nào vào người họ, anh nhớ kỹ điều này1”. “Không một cú đánh đập nào, bởi vì đó luôn là nguyên tắc của chúng tôi, tôi đã nói với anh rồi, và mọi người đều biết rõ1”.

Sự kiềm chế này là một điều đáng khâm phục đến kinh ngạc. Lời chỉ đạo và nhận định của Fidel đã làm rõ bản chất nhân văn của người chiến sĩ cách mạng:

Những con người đó đã chiến đấu với trái tim cháy bỏng, nhưng đã biết kiềm chế sự căm giận để không đập báng súng, dù chỉ là một cú thúc bằng báng súng, chứ đừng nói đến các thứ khác, vào bất cứ tên nào trong số bọn người đó, những tên đánh thuê được trả tiền, phục vụ cho một thế lực ngoại bang và cho những kẻ chẳng hề yêu quý chúng, như anh sẽ thấy. Tôi tự hỏi, liệu có trường hợp nào khác giống như vậy trong lịch sử2”.

Chính Fidel Castro đã kể lại câu chuyện cá nhân đầy thực chứng khi ông trực tiếp cứu sống một tên lính đánh thuê bị bắt trong đêm. Khi tên lính này hoảng sợ, mang một vết loét rỉ máu và cầu xin: “Các người hãy giết tôi đi”, Fidel đã trả lời bằng một câu nói mang tính bản chất của quân đội cách mạng:

Chúng tôi không giết tù binh”. “Trên một xe jeep, phóng hết tốc độ, chúng tôi cho đưa hắn đến bệnh viện. Hắn được cứu sống như vậy đó1”.

Fidel cũng rất thẳng thắn khi không che giấu một sự cố tai nạn đau lòng xảy ra trong quá trình vận chuyển tù binh về La Habana. Do số lượng tù binh quá đông trong khi phương tiện vận tải và hệ thống tổ chức thời kỳ đầu còn thiếu thốn, sự bất cẩn của một người phụ trách đã khiến một thùng xe kéo rơmoóc bị đóng kín, dẫn đến việc một số người bị ngạt thở và tử vong. Fidel phân tích một cách duy vật biện chứng và khoa học:

Đó hoàn toàn là một tai nạn. Chúng tôi làm thế thì có lợi gì? Người của chúng tôi không muốn có một người nào chết, bởi vì càng có nhiều tù binh càng tốt hơn, chiến thắng sẽ lớn hơn, trong trường hợp này tính theo số lượng lính đánh thuê bị bắt làm tù binh2”.

Đối với cách mạng, càng giữ được nhiều tù binh sống sót thì chiến thắng càng lớn, tính chính nghĩa càng được bảo toàn và giá trị thương lượng càng cao.

 Sự phản chiếu lịch sử: Đối sánh với các cuộc chiến tranh đế quốc

Để làm nổi bật giá trị của chủ nghĩa nhân đạo Cuba, Fidel Castro đã đặt chiến dịch Girón vào thế đối sánh lịch sử với hàng loạt cuộc chiến tranh xâm lược khác trên thế giới. Khi thảo luận về chiến tranh Việt Nam, ông đưa ra những câu hỏi mang tính chất vấn đanh thép:

Này nhé, ở Việt Nam, đã diễn ra điều gì? Bao nhiêu người đã bị quân Mỹ và đồng minh giết hại ở Việt Nam? Những dân thường, những người bị bắt, chứ không chỉ những người đã chết trong chiến đấu... Anh biết rằng điều đó diễn ra trong tất cả các cuộc chiến tranh kiểu này3”.

Ông cũng thẳng thắn nhắc nhở đối phương về lịch sử thực dân:

Các anh, những người Pháp, đã tiến hành một cuộc chiến tranh ở Angiêri và phải xem có bao nhiêu người Angiêri đã bị tra tấn và sát hại... Nước Mỹ không thể đảm bảo rằng trong bất kỳ một cuộc chiến tranh hiện đại nào của họ lại không có binh sĩ nào phạm những tội ác dã man4”.

Sự nhất quán trong tư tưởng nhân đạo của Fidel không chỉ dừng lại ở biên giới Cuba mà đã trở thành bản sắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Các chiến sĩ Cuba khi tham gia chiến đấu suốt 15 năm tại Ănggôla, từ 1975 đến 1990, góp mặt trong trận đánh quyết định tại Cuito Cuanavale, đã tuân thủ nghiêm ngặt chỉ đạo của ông:

Các anh có thể đi hỏi quân Nam Phi xem có người nào trong số họ bị bắt làm tù binh đã bị quân đội Cuba ngược đãi, có ai bị đánh đập? Họ đã được an toàn trong tay chúng tôi. Anh hãy nhớ kỹ, không có một trường hợp nào1”.

Tại Êtiôpia, chống lại cuộc chiến tranh xâm lược do Siad Barre tiến hành, Fidel khẳng định:

Không bao giờ các chiến sĩ của chúng tôi lại hành hình một tù binh, không bao giờ lại ngược đãi họ, và chúng tôi luôn dành cho họ sự chăm sóc y tế2”.

Fidel đúc kết một bài học lịch sử mang tính quy luật:

Nếu trong cuộc chiến tranh của chúng tôi ở Cuba, kéo dài 25 tháng chiến đấu chống lại Batista, như tôi đã kể với anh, chúng tôi hành hình các tù binh, thì chắc là không bao giờ giành được thắng lợi3”.

Chính sách nhân đạo này đã đánh sụp hàng rào tâm lý sợ hãi của binh lính đối phương, khiến họ sẵn sàng buông súng đầu hàng khi thế trận thất bại, từ đó làm giảm thiểu tổn thất xương máu cho cả hai bên.

Bản lĩnh trước bàn cờ địa chính trị

Biến tù binh thành công cụ khẳng định vị thế pháp lý quốc tế

Tầm vóc của Fidel Castro với tư cách một chiến lược gia chính trị được bộc lộ rõ nét qua cách ông xử lý hậu quả chiến tranh sau chiến thắng Girón. Thay vì sa vào tâm lý trả thù cực đoan, điều mà ông nhận định nếu diễn ra ở Mỹ, họ sẽ kết án chung thân hoặc xử bắn hàng loạt những kẻ phản quốc như vậy, Fidel đã chủ động đặt vấn đề bồi thường với Chính phủ Mỹ. Lời chỉ đạo và giải thích của Fidel về sách lược này rất sắc bén:

Chúng tôi xử chúng phải trả một khoản bồi thường 100 nghìn đôla cho một tù binh, hoặc là phải nhận một bản án hình sự tương ứng. Cái mà chúng tôi muốn lúc đó, là họ trả một khoản bồi thường, không phải do cần tiền mà đó sẽ là một sự thừa nhận của Chính phủ Mỹ đối với chiến thắng của Cách mạng. Nói đúng hơn là một hình phạt tinh thần1”.

Qua các cuộc thương lượng căng thẳng với luật sư người Mỹ James Donovan, Cuba đã đạt được một thỏa thuận lịch sử:

Tôi nhớ là đâu như họ đã trả hai triệu đôla tiền mặt, sau những cuộc thương thảo với Donovan, số tiền đó chúng tôi đã đầu tư mua máy ấp trứng ở Canađa để phát triển ngành nhân giống gia cầm. Và 50 triệu nữa, là con số mà Donovan ước chừng, được trả bằng thực phẩm cho thiếu nhi và thuốc men2”.

Dưới góc nhìn khoa học lịch sử, cái hay của Fidel trong bước đi ngoại giao này không nằm ở giá trị vật chất của số thuốc men hay thực phẩm đó, dù phía Mỹ đã cố tình tính giá thuốc tương đối đắt đỏ. Điều cốt lõi, mang tính đột phá về mặt luật pháp quốc tế chính là: Việc Chính phủ Mỹ chấp nhận trả khoản bồi thường này đồng nghĩa với một sự thừa nhận công khai và chính thức của Washington đối với chiến thắng và tư cách pháp lý của Chính phủ Cách mạng Cuba. Đó là một “hình phạt tinh thần” đích đáng, một đòn cay đắng giáng vào thể diện của một siêu cường đế quốc.

Fidel cũng thể hiện một sự tỉnh táo khi quyết định tống khứ 1.200 tên tù binh này về Miami thay vì giữ họ lại trong các trại giam Cuba. Ý đồ chiến lược của ông được giải thích nguyên văn trong tài liệu:

Chúng tôi làm gì với 1.200 “vị anh hùng” bị tù? Tốt hơn là trả về bên đó... Giữ làm gì ở đây 1.200 tên tù binh ấy để rồi bọn người ở Miami biến họ thành các tử sĩ?... Một con tàu chở đầy những “người hùng” thật đáng sợ, bởi vì mỗi người trong bọn họ tự coi mình là người chỉ huy, mỗi người trong bọn họ tự coi mình là một “người hùng”. Và thực sự chúng tôi đã gửi cho họ hơn một nghìn người anh hùng hạ đẳng3”.

Bằng cách trả họ về Mỹ, Fidel đã tạo ra sự chia rẽ, mâu thuẫn nội bộ sâu sắc ngay trong lòng các tổ chức phản động ở Miami.

Bản lĩnh trước các âm mưu mưu sát tinh vi của tình báo Mỹ

Những chia sẻ của Fidel cũng hé lộ những góc khuất đen tối của cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” mà CIA tiến hành nhắm vào cá nhân Fidel Castro. Sự đê hèn của cơ quan tình báo Mỹ đạt đến điểm đỉnh khi họ lợi dụng chính viên luật sư James Donovan để chuyển một món quà mưu sát đến Fidel. Lời thuật lại của ông đầy tính thực chứng:

Điều không thể tưởng tượng được là CIA đã lợi dụng viên luật sư thương lượng với tôi, giao cho anh ta mang theo tặng phẩm cho tôi là một bộ quần áo thợ lặn đã bị tẩm chất có nấm và vi khuẩn đủ để giết chết tôi. Lợi dụng đến cả vị luật sư sang thương lượng với tôi về việc giải thoát cho những tù binh ở Girón! Họ thật quá đáng1”.

Tuy nhiên, với bản lĩnh và sự thận trọng tự nhiên của một nhà lãnh đạo, kết hợp với các điều kiện thực tế, âm mưu này đã phá sản. Điều đáng chú ý là Fidel Castro thể hiện một thái độ ứng xử rất khách quan và công bằng:

Tôi không thể nói rằng anh ta đã can dự vào âm mưu này. Mọi người hiểu rằng họ định dùng anh ta như một công cụ. Luật sư này tên là Donovan, James Donovan. Không có dấu hiệu nào cho thấy anh ta đã can dự một cách có ý thức, mà là họ lợi dụng anh ta2”.

Những tài liệu đen tối này sau đó đã bị phơi bày ra ánh sáng quốc tế thông qua cuộc điều tra chính thức của Ủy ban Church thuộc Quốc hội Mỹ, chứng minh cho cả thế giới thấy sự suy đồi về mặt đạo đức chính trị của hệ thống tình báo Mỹ.

Tính khách quan và phi cảm tính đối với các chính khách đối phương

Một trong những phẩm chất tư duy đỉnh cao của Fidel Castro chính là khả năng tách bạch giữa hành động chính trị và trình độ tri thức của đối thủ. Đối với Tổng thống Mỹ John F. Kennedy, người phê chuẩn cuộc cấm vận kinh tế tàn khốc, các vụ tấn công cướp biển, các chiến dịch phá hoại mùa màng, Fidel không hề biểu lộ một sự căm ghét cá nhân mù quáng.

Ngược lại, Fidel nhìn nhận và phân tích Kennedy bằng một thái độ rất khách quan:

Nhưng đó là một phản ứng tinh khôn của Kennedy, một người thực sự là có một trình độ tri thức, tất nhiên là được đào tạo tốt3”.

Ông phân tích một cách thấu đáo rằng vụ Girón thực chất là một di sản độc hại mà Kennedy phải thừa kế từ kế hoạch lập sẵn của chính quyền Eisenhower và Phó Tổng thống Nixon. Ông giải thích tư duy của đối phương:

Lúc đó Kennedy, thì có những sự hoài nghi, lưỡng lự và hơi dao động cũng phải thực hiện kế hoạch hành động của Eisenhower và Nixon. Ông ta tin rằng kế hoạch đó do CIA và Lầu Năm góc vạch ra... Có lẽ người Mỹ đã tin vào chính luận điệu tuyên truyền bịa đặt của họ, và không nghi ngờ gì là họ đã đánh giá thấp nhân dân và những người cách mạng Cuba1”.

Fidel đánh giá cao sự "tinh khôn" của Kennedy trong phản ứng hậu Girón khi vạch ra chương trình "Liên minh vì tiến bộ" để xoa dịu làn sóng cách mạng ở Mỹ Latinh:

Nhưng cũng phản ứng một cách rất thông minh: vạch ra một chương trình chính trị về cải cách xã hội và viện trợ kinh tế cho Mỹ Latinh... Ông ta vạch ra một kế hoạch chi 20 tỷ đôla trong 10 năm dành cho chương trình cải cách ruộng đất, cải cách ruộng đất cơ đấy!... Đứng trước cuộc Cách mạng Cuba, Kennedy đã buộc phải đưa ra những sáng kiến kiểu này. Ông ta đã hiểu rằng những yếu tố khách quan có tính chất xã hội và kinh tế có thể tạo chỗ cho một cuộc cách mạng cấp tiến trên châu lục này2”.

Sự phân tích thấu đáo này của Fidel chứng tỏ ông luôn nghiên cứu đối thủ bằng thế giới quan duy vật biện chứng, từ đó giúp Cuba luôn đi trước một bước trong các tính toán chiến lược.

Những bài học lịch sử

Dưới lăng kính của khoa học lịch sử và lý luận cách mạng hiện đại, chúng ta có thể rút ra bốn bài học căn bản có giá trị thời đại sâu sắc:

Bài học thứ nhất: Vai trò quyết định của ý thức chính trị xã hội trong việc xây dựng sức mạnh quốc phòng

Văn bản chỉ ra rằng chiến thắng quân sự của Cuba được bảo đảm nhờ một sự kiện mang tính bước ngoặt: Ngày 16 tháng 4 năm 1961, tại lễ an táng các nạn nhân bị máy bay Mỹ oanh tạc, Fidel Castro đã chính thức tuyên bố tính chất xã hội chủ nghĩa của cuộc Cách mạng Cuba. Chính việc công khai hóa mục tiêu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã thổi bùng ý thức giai cấp của hàng trăm ngàn công nhân, nông dân, sinh viên. Họ hiểu rõ mình đang chiến đấu để bảo vệ những thành quả thực tế mà chế độ mới đem lại: quyền sở hữu ruộng đất từ tay các đại điền chủ Mỹ thông qua cải cách ruộng đất, quyền được học chữ nhờ chiến dịch xóa nạn mù chữ, quyền được tiếp cận an sinh xã hội.

Ý thức chính trị tự giác này là cội nguồn của một sức mạnh phòng thủ to lớn, cho phép Cuba nhanh chóng huy động hàng trăm ngàn người vào quân ngũ để đương đầu với siêu cường duy nhất là Mỹ. Lời chỉ đạo chiến lược của Fidel về sự chuẩn bị này rất rõ ràng:

Cũng may mắn là vào lúc đó đã tiến hành xong chiến dịch chống nạn mù chữ, đang tiếp tục các kế hoạch bổ túc văn hóa, và đã có trường học ở khắp nơi....đòi hỏi phải có kiến thức tối thiểu ở bậc cuối cùng của trung học phổ thông, và các khóa học đặc biệt mới có thể sử dụng được1”.

Khi toàn dân đã có ý thức, họ sẵn sàng chuyển ngang từ việc học hành sang vận hành các khí tài kỹ thuật phức tạp như rađa, phương tiện thông tin liên lạc, tên lửa đất đối không để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Bài học thứ hai: Tính nhân đạo cách mạng là vũ khí chính trị tối cao

Chính sách đối xử nhân đạo với tù binh, không dùng báng súng để trút giận của quân và dân Cuba dưới sự rèn luyện của Fidel không phải là một biểu hiện của sự yếu đuối, mà là một tính toán chiến lược có tính đạo đức cao. Lời đúc kết của Fidel trong tài liệu thể hiện niềm tự hào sâu sắc:

Và trong những năm đầu Cách mạng, rất nhiều chiến sĩ là những dân quân, tình nguyện trong đó, có công nhân, nông dân và sinh viên, nhưng không hề có một trường hợp nào dùng báng súng đánh tù binh. Những người được chúng tôi trao trả về Miami, chắc họ vẫn còn sống và đang ở đấy, có thể hỏi họ xem có ai nói rằng mình đã bị đánh đập. Không có lấy một trường hợp nào2”.

Nó không chỉ bảo vệ tính chính nghĩa của cuộc cách mạng trên trường quốc tế, làm thất bại các luận điệu tuyên truyền bôi nhọ của phương Tây, mà còn có tác dụng phân hóa sâu sắc hàng ngũ kẻ thù. Chính việc được đối xử tử tế, được cứu chữa y tế kịp thời đã khiến các tù binh lính đánh thuê sau đó sẵn sàng hợp tác, nói lên toàn bộ sự thật và công khai các âm mưu của CIA. Đây là bài học sâu sắc cho bất kỳ một phong trào giải phóng dân tộc nào: Muốn chiến thắng bạo lực tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc, lực lượng cách mạng phải đứng vững trên đỉnh cao của đạo đức nhân văn.

Bài học thứ ba: Sự kiên quyết bài trừ giáo điều và chủ nghĩa kinh viện trong tư duy chiến lược

Mọi lý thuyết quân sự, chính trị dù tiến bộ đến đâu nếu bị đóng khung trong các giảng đường hàn lâm viện sẽ trở thành những xiềng xích kìm hãm sự sáng tạo thực tiễn. Sự linh hoạt của Fidel Castro trong việc áp dụng chiến thuật chỉ dùng lính tình nguyện chống chiến tranh du kích phản động, hay việc chia nhỏ địa bàn để rà quét tỉ mỉ từng mét vuông đất tại Escambray là những minh chứng sống động cho thấy thực tiễn chiến trường mới là thước đo tối cao của lý luận. Lời cảnh báo mang tính chỉ đạo chiến lược của ông cần phải được ghi nhớ:

Những vũ khí mà anh có, anh phải biết sử dụng nó và phải xếp sang một bên những sách vở và các công thức của các hàn lâm viện1”.

Bài học này đòi hỏi các nhà lãnh đạo cách mạng phải luôn giữ vững một tư duy mở, không ngừng đổi mới phương thức tác chiến và quản lý xã hội để phù hợp với sự thay đổi liên tục của công nghệ và thủ đoạn của đối phương.

Bài học thứ tư: Bản lĩnh ngoại giao thực dụng, phi cảm tính dựa trên lợi ích cốt lõi của dân tộc

Cách Fidel Castro biến cuộc trao đổi 1.200 tù binh lấy vật tư y tế và máy móc nông nghiệp thành một đòn ngoại giao buộc Mỹ phải thừa nhận sự hợp pháp của chế độ mới là một bài học kinh điển về nghệ thuật ứng phó với siêu cường. Lời giải thích của ông về ý nghĩa cốt lõi của giải pháp này rất rõ ràng:

Điều chúng tôi muốn là tìm một giải pháp có thể được nhân dân chúng tôi chấp nhận và trả chúng về bên đó... Bản án không thể thể hiện sự thù hận, cũng không phải sự trả thù. Chiến thắng là phần thưởng quan trọng nhất đối với chúng tôi2”.

Trong quan hệ quốc tế, sự thù hận cá nhân hay cảm xúc nhất thời phải được gạt sang một bên để nhường chỗ cho các phân tích khoa học, tỉnh táo về bản chất của đối thủ. Việc đánh giá đúng trình độ tri thức và các sáng kiến chiến lược của đối phương, như cách Fidel phân tích về Kennedy, là cơ sở cốt lõi để xây dựng các sách lược phòng thủ và chủ động phản công hiệu quả, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trong một thế giới đầy biến động.

Hồi ức lịch sử của Fidel Castro không chỉ đơn thuần kể lại một chiến thắng quân sự vang dội tại bãi biển Girón hay một chiến dịch tiễu phỉ thành công tại vùng núi Escambray. Toàn cảnh khắc họa chân dung của lãnh tụ Fidel Castro ở tầm vóc của một nhà tư tưởng lớn, một vị tổng chỉ huy quân sự thiên tài với tư duy phản kinh viện sắc bén, và một nhà ngoại giao bản lĩnh mang chủ nghĩa nhân đạo cách mạng sâu sắc.

Vai trò của ông trong giai đoạn lịch sử bản lề năm 1961 chính là ngọn hải đăng dẫn dắt con thuyền cách mạng Cuba vượt qua những dòng thác ngầm của cuộc chiến tranh lạnh, đặt nền móng vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của một đảo quốc xã hội chủ nghĩa kiên cường ngay trước mũi nhọn của chủ nghĩa đế quốc. Những bài học lý luận và thực tiễn có tính thực chứng cao được rút ra từ lời nói và chỉ đạo của Fidel trong văn bản này cho đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị thời đại, là tài liệu nghiên cứu quý báu cho các nhà khoa học lịch sử và các thế hệ mai sau trên con đường đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội./.


1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr344

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr345

3 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr349

4 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr345

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr345

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr345

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr354

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr345

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr355

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr347

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr345

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr347

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr347

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr347

3 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr347

4 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr347

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr348

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr348

3 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr348

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr349

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr351

3 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr351

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr350

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr350

3 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr360

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr359

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr359

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr357

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr349

1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr354

2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr345

Vương Xuân Nguyên