Năm 1959, TT Fidel Castro gặp Phó Tổng thống Mỹ Richard Nixon. Ảnh: Getty
Dựa trên nguồn tư liệu gốc từ văn bản nhân chứng, bài khảo cứu này tập trung phân tích một cách khách quan, toàn diện và hệ thống về mô hình cải cách của Fidel Castro. Qua đó, làm rõ nhãn quan chiến lược, tính triệt để mang tính quyết định và sự linh hoạt trong phương pháp quản trị của ông nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và giữ vững khối đoàn kết dân tộc.
Tư duy quản trị khủng hoảng và chiến lược duy trì khối đại đoàn kết dân tộc
Ngay trong giai đoạn đầu tiên đầy biến động, Fidel Castro đã nhận thức sâu sắc về nguy cơ lộn xộn nội bộ. Việc định hình một mô hình cải cách ổn định đòi hỏi một lộ trình quản trị khủng hoảng vừa kiên quyết, vừa bao dung để tập hợp lực lượng.
Mô hình của Fidel trước hết được thiết lập bằng việc thực hiện nghiêm túc các cam kết cốt lõi với nhân dân để xây dựng niềm tin pháp lý vững chắc. Chính phủ mới ngay lập tức thực hiện lời hứa đưa các tội phạm ra xét xử công khai, một tiền lệ chưa từng có trên bán cầu này. Song song với đó, chính quyền tiến hành tịch thu toàn bộ tài sản không rõ nguồn gốc, các tài sản do biển thủ mà có dưới thời kỳ độc tài Batista. Những biện pháp này không chỉ xoa dịu phẫn nộ xã hội mà còn khẳng định tính chính danh tối cao của lực lượng chiến thắng.
Một đặc điểm quan trọng trong tư duy chính trị của Fidel Castro là việc xác định ranh giới đối tượng xử lý nhằm mục đích tối cao là gìn giữ khối đoàn kết. Ông quyết định không mở rộng diện truy xét tài sản về quá khứ trước thời kỳ Batista. Fidel Castro đã giải thích cụ thể về quyết định mang tính chiến lược này:
"Chúng tôi không mở rộng diện về quá khứ trước thời kỳ Batista, vì trong giai đoạn đấu tranh, cần phải giữ được sự đoàn kết nhất định, và vì nếu chúng tôi tính cả những tài sản không rõ nguồn gốc của các chính phủ trước đó thì hầu như sẽ không còn của riêng1."
Việc áp dụng hình thức tha bổng này là một công cụ mang tính thực tiễn để bảo đảm sự tuân thủ quyết định của Phong trào 26 tháng 7 và Quân khởi nghĩa chiến thắng. Nó thiết lập một mặt trận thống nhất giữa các lực lượng đã từng tham gia đấu tranh chống chế độ độc tài, ngăn chặn sự rạn nứt chính trị ngay từ thời khắc lập quốc.
Mô hình cải cách ruộng đất và phát triển nông nghiệp
Luật Cải cách ruộng đất, ban hành ngày 17 tháng 5 năm 1959 tại Tổng hành dinh Plata, là trục xương sống trong mô hình cải cách của Fidel Castro. Mô hình này thể hiện sự kết hợp giữa tính triệt để cách mạng và sự tôn trọng nghiêm ngặt các quy luật thực tiễn của đời sống nông dân.
Đối diện với cơ cấu sở hữu đất đai bất bình đẳng, nơi có những điền trang rộng lớn lên tới 200 ngàn héc ta thuộc sở hữu của người nước ngoài và các công ty Mỹ nắm giữ những vùng đất phì nhiêu nhất, Fidel Castro đã thể hiện một nhãn quan vượt trội so với các cộng sự. Khi thảo luận tại Tarará, các đồng chí tham gia, bao gồm cả Che Guevara và Carlos Rafael Rodríguez, đều có xu hướng muốn xây dựng một đạo luật ôn hòa hơn vì lo ngại sự đụng độ với các doanh nghiệp Mỹ. Tuy nhiên, Fidel đã đưa ra chủ kiến tiến hành một cuộc cải cách triệt để hơn. Ông khẳng định tư duy chiến lược của mình:
"Vấn đề là ở chỗ trong cải cách ruộng đất, tôi là người khá triệt để, tôi cần gì phải nói thêm với anh những điều khác. Nếu anh không triệt để, anh sẽ không làm được gì cả, người ta tổ chức ra đảng, tiến hành hàng chục cuộc tuyển cử, và chẳng có chuyện gì xảy ra. Nhưng tôi thì khác, tôi nghĩ là cần phải dùng Luật Cải cách ruộng đất để giáng một đòn quyết định1."
Mô hình cải cách ruộng đất của Fidel không tịch thu vô điều kiện mà dựa trên hiệu quả khai thác thực tế, thiết lập các tiêu chuẩn pháp lý rõ ràng. Diện tích tối đa cho mỗi điền trang được quy định là 100 caballería, tương đương với 1.340 héc ta, với điều kiện bắt buộc là đất đai phải được khai thác tốt. Đối với những vùng đất không được khai thác với năng suất cao, hạn mức sở hữu tối đa bị siết chặt, chỉ còn giới hạn ở mức 30 caballería. Luật cấm hoàn toàn các công ty nước ngoài được sở hữu vượt quá hạn mức 100 caballería, điều này trực tiếp dẫn tới tiến trình quốc hữu hóa các công ty Mỹ mang tính tất yếu khách quan.
Một đóng góp lý luận và thực tiễn lớn của Fidel Castro trong mô hình cải cách nông nghiệp là việc từ chối áp dụng biện pháp tập thể hóa bắt buộc. Ông đã đúc rút kinh nghiệm từ lịch sử để tránh những tổn thất cho Cuba:
"Chúng tôi không làm điều đã được làm trong những thời điểm khó khăn nhất định trong cuộc Cách mạng Nga là tập thể hóa bắt buộc, vì cách đó rất tốn kém và đẫm máu. Hơn nữa lại không kết quả. Ở Liên Xô, sự khan hiếm lương thực, thực phẩm diễn ra trong thời gian dài. Chúng tôi chưa bao giờ buộc phải nhập hai mảnh ruộng làm một2."
Chính sách của Cách mạng Cuba là nhất nhất tôn trọng nguyện vọng của nông dân. Việc giao quyền sở hữu phần đất cho những người làm ăn bấp bênh, tá điền bị chủ đất thu đoạt hoa lợi đã giải quyết triệt để tình trạng bất công ở nông thôn. Fidel khẳng định không dùng sức mạnh để áp đặt việc sáp nhập ruộng đất vì điều đó ắt sẽ gây chấn thương cho xã hội. Các trung tâm sản xuất nông nghiệp hiệu quả nhất trong mô hình của ông chính là kết quả sinh ra từ sự hợp nhất tình nguyện, tự giác của những tiểu nông độc lập để cùng xây dựng nhà ở, trường học, cơ sở y tế và cung cấp nước sạch.
Điều hòa xung đột lợi ích và nghệ thuật quản lý dân chúng
Mô hình cải cách của Fidel Castro không chỉ dừng lại ở các sắc lệnh kinh tế mà còn nằm ở năng lực điều hòa các xung đột lợi ích phức tạp giữa các giai tầng xã hội và trong ngay chính nội bộ chính phủ cách mạng.
Ngay sau thắng lợi, một số biện pháp vô chính phủ do sự tranh giành giữa các tổ chức chính trị và thói quen cũ trước cách mạng là khuyến khích việc chia ruộng đất tự phát đã xuất hiện. Fidel Castro đã thể hiện lập trường cứng rắn để duy trì kỷ cương bằng việc ban hành nghị định khẳng định luật pháp không công nhận quyền sử dụng đất tự chiếm dụng. Đồng thời, khi có những quyết định đột ngột gây phản ứng mạnh từ người lao động, như việc Tổng thống Manuel Urrutia tuyên bố đóng cửa tất cả các sòng bạc làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến công nhân ngành du lịch, Fidel đã đứng ra dàn xếp, đối phó kịp thời với những việc làm thiếu tính toán đó để ổn định xã hội.
Khi hơn ba nghìn đại diện công nhân mía đường tại rạp hát CTC đồng loạt đòi hỏi yêu sách kinh tế tăng từ ba ca lên bốn ca làm việc trong ngày, một yêu sách có nguy cơ làm cho nền kinh tế suy sụp trong bối cảnh các xí nghiệp còn thuộc quyền sở hữu tư nhân, các nhà lãnh đạo thuộc Phong trào 26 tháng 7 và Đảng PSP đã sa vào tranh chấp giận dữ để ủng hộ yêu sách quần chúng. Trong tình thế đó, Fidel Castro đã sử dụng uy tín và tư duy thực tế để cầm chắc dây cương. Ông chia sẻ:
"Tôi phải vận dụng hết trí tưởng tượng để thuyết phục họ, nhưng vẫn cầm chắc dây cương. Tôi nghĩ là tôi đã thuyết phục được họ. Ngày nay, ai ai cũng cho là tôi đã có lý... Khi đó, tôi không thể nói thẳng với họ là 'Các bạn ơi, điều mà các bạn sẽ để lại là các xí nghiệp và nhà máy bị sụp đổ', mà khuyên giải họ bằng lý lẽ rằng 'việc này chưa thích hợp vì thế này, vì thế kia và vì thế nọ'1."
Sự tỉnh táo này cũng được Fidel áp dụng khi phải cãi lý với ngay các thành viên lãnh đạo trong Phong trào 26 tháng 7 để vượt qua các tranh cãi nội bộ.
Phân cấp quản trị và phương pháp sử dung nhân sự lãnh đạo
Mô hình tổ chức bộ máy của Fidel Castro trong những tháng đầu tiên mang tính phân cấp chiến lược rõ rệt, kết hợp giữa quyền hạn quân sự và trách nhiệm dân sự.
Dù giữ vị trí người đứng đầu quân đội và dân tộc chiến thắng, Fidel ban đầu đã từ chối chức vụ nguyên thủ quốc gia nhằm hợp tác với vị Tổng thống được đề cử. Tuy nhiên, trước sự ngờ nghệch, thiếu năng lực một cách buồn bã, sa vào làn sóng chống cộng và lối sống xa hoa của vị Tổng thống này, Fidel đã phải chủ động đứng ra khắc phục những sai lầm, đồng thời đối phó với các vụ mưu phản nội bộ từ cánh hữu như vụ Hubert Matos nổ ra ở Camagüey.
Để bảo vệ chính phủ trước các nguy cơ xâm lăng bên ngoài, Fidel thiết lập cơ chế phân cấp chỉ huy quân sự vùng rất khoa học:
"Khi có thông báo về nguy cơ xâm lăng, thì Raúl về Oriente, Che đi Pinar del Río, Almeida đi miền Trung, còn tôi thì ở lại La Habana; chúng tôi phân cấp chỉ huy1."
Cơ chế này đạt được độ hoàn thiện cao đến mức trong các cuộc khủng hoảng lớn như vụ bãi biển Girón hay vụ Khủng hoảng tháng 10, mỗi người lãnh đạo tự động vào vị trí chỉ huy của mình một cách độc lập mà không phụ thuộc vào công việc hành chính họ đang đảm nhiệm lúc đó.
Mô hình của Fidel Castro đặc biệt coi trọng năng lực thực tiễn và sự liêm chính đạo đức hơn là các văn bằng hàn lâm. Việc ông bổ nhiệm Che Guevara điều hành Cục Công nghiệp hóa thuộc Viện Cải cách ruộng đất quốc gia (INRA), sau đó là Thống đốc Ngân hàng Quốc gia và Bộ trưởng Bộ Công nghiệp là một minh chứng lịch sử. Fidel khẳng định:
"Một nhà kinh tế có xuất sắc hay không là tùy thuộc vào ý tưởng mà người đó muốn làm khi điều hành một lĩnh vực của nền kinh tế đất nước... Không phải vì anh có tấm bằng đại học mà vì anh đọc nhiều và quan sát nhiều. Bất cứ nơi nào mà Che giữ trọng trách, anh đều hoàn thành đến nơi đến chốn2."
Trong các cuộc tranh luận về cơ chế quản lý kinh tế bao cấp của Che và cơ chế hạch toán hạch toán kinh tế của các đồng chí khác, Fidel thừa nhận bản thân thích lập trường đề cao đạo đức, giác ngộ cộng sản và việc nêu gương của Che hơn, vì nó gần gũi với nhân sinh quan chiến đấu thực tế của họ.
Đối ngoại và đối phó với chiến tranh phá hoại
Một phần không thể tách rời trong mô hình quản trị của Fidel Castro là việc đối phó với các thế lực thù địch bên ngoài. Tiến trình cải cách của Cuba diễn ra trong điều kiện bị bao vây, cấm vận và chịu đựng các hoạt động khủng bố khốc liệt kéo dài.
Mô hình đối ngoại của Fidel xác định rõ nguyên tắc: Mỗi biện pháp chống phá Cách mạng của kẻ địch đều được đáp trả tương xứng bằng việc đẩy nhanh tiến trình quốc hữu hóa các cơ sở công nghiệp chủ chốt, bao gồm cả các khu liên hợp khai thác kền và các nhà máy đường. Khi Mỹ tiến hành phong tỏa tài sản, cắt đứt quan hệ ngoại giao và áp dụng bao vây cấm vận kinh tế, Fidel vẫn kiên trì giữ vững định hướng cách mạng triệt để nhằm ngăn chặn sự cô lập.
Chính phủ do Fidel lãnh đạo phải chống chọi với hàng loạt hành động dã man do chính quyền Mỹ tổ chức, giật dây hoặc tài trợ thông qua các tổ chức phản cách mạng. Các hành động này bao gồm việc làm nổ tàu La Coubre ngay tại cầu cảng La Habana năm 1960 làm chết hơn 100 người, đánh bom máy bay dân dụng năm 1976 làm chết 73 hành khách, và các chiến dịch chiến tranh sinh học đưa virus dịch lợn châu Phi cùng virus sốt xuất huyết tuýp II vào Cuba gây tử vong cho nhiều người, trong đó có trẻ em.
Đặc biệt, cá nhân Fidel Castro là mục tiêu của hơn 600 vụ mưu sát được lưu hồ sơ dưới các hình thức tinh vi từ viên nang độc dính đá trong tủ lạnh, tác nhân hóa học trong phòng thu hình, rắc độc vào xì gà cho đến cài súng trong ống kính máy quay phim tại Chilê. Sự đứng vững của Fidel Castro trước các đòn tấn công này là yếu tố cốt lõi giữ vững sự tồn tại của hệ thống chính trị Cuba, đập tan mọi tính toán của các thế lực phản động dựa dẫm vào sự can thiệp quân sự của nước ngoài.
Một số biện pháp cải cách chiến lược
Đi sâu vào bản chất của các biện pháp được thực hiện trong những tháng đầu năm 1959, chúng ta thấy một tư duy quản lý kinh tế xã hội vượt xa những quy chuẩn thông thường của thời đại. Quyết định phục hồi chỗ làm việc cho người lao động từng bị sa thải dưới thời Batista trong tất cả các xí nghiệp là một bước đi mang đậm tính nhân văn chính trị.
Xét dưới góc độ kinh tế học thuần túy, biện pháp này phi lợi nhuận và tạo ra gánh nặng tài chính lớn cho các doanh nghiệp, đúng như Fidel thừa nhận rằng sự tính toán này rất không kinh tế và rất khác biệt với quan điểm của trường phái kinh tế tự do mới thân Mỹ. Tuy nhiên, mục tiêu của Fidel không phải là tối ưu hóa lợi nhuận trước mắt cho giới chủ, mà là tối ưu hóa sự ổn định xã hội, thu phục nhân tâm và củng cố nền tảng giai cấp cho chính quyền mới.
Chính sách mạnh dạn giảm giá tiền thuê nhà ở, bước đi này sau đó đã phát triển thành một cuộc cải cách triệt để biến người thuê bất động sản thành người sở hữu. Đây là một sự can thiệp trực tiếp vào quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sinh hoạt. Khía cạnh khoa học trong quản trị của Fidel thể hiện ở chỗ ông không thực hiện tịch thu cực đoan, vô chính phủ mà thiết lập một cơ chế đền bù cho những chủ sở hữu có ít nhà ở. Biện pháp điều hòa này giảm thiểu sự phản kháng của tầng lớp tiểu tư sản, đồng thời giải quyết căn bản nhu cầu an cư của đại bộ phận nhân dân lao động thành thị, biến họ thành những người có lợi ích gắn liền với sự sống còn của cách mạng.
Sự xuất hiện của Viện Cải cách ruộng đất quốc gia (INRA) chính là một mô hình siêu bộ, một cơ quan tập trung quyền lực tối cao có khả năng vượt qua các rào cản quan liêu thông thường để thực thi các sắc lệnh cách mạng. Trong một bối cảnh xã hội có phần vô chính phủ, khi các cơ quan như Bộ Lao động tự ý quyết định nhiều chuyện hệ trọng hoặc một số chỉ huy khu vực nông nghiệp tự ý xử lý công ty kền của Mỹ tại Moa mà không xin ý kiến, sự năng động của INRA đóng vai trò như một lực lượng lập lại trật tự. INRA không chỉ kiểm soát đất đai mà còn vươn cánh tay quản lý sang cả các ngành công nghiệp chủ chốt thông qua Cục Công nghiệp và công nghiệp hóa. Sự tập trung quyền lực này là giải pháp bắt buộc để chính chính phủ kiểm soát tình hình và điều hành nền kinh tế vượt qua khủng hoảng.
Sự chuyển dịch trong quan hệ kinh tế đối ngoại của Cuba, nơi mà mỗi biện pháp phá hoại hoặc cấm vận từ phía Mỹ đều trở thành một cái cớ mang tính hợp pháp để Cuba tiến hành quốc hữu hóa. Khi các tập đoàn tài phiệt và tư sản tìm cách xuất khẩu sản phẩm, ghi gian hóa đơn để tẩu tán ngoại tệ ra nước ngoài, nền kinh tế Cuba đã bị đẩy đến bờ vực phá sản.
Phản ứng của Fidel không phải là lùi bước đàm phán nhân nhượng các nguyên tắc cốt lõi, mà là dùng Luật Cải cách ruộng đất để giáng một đòn quyết định, chấp nhận sự đụng độ trực diện với các doanh nghiệp Mỹ sở hữu các nhà máy đường lớn và các đồn điền rộng mênh mông. Tư duy này biến cuộc chiến đấu giành độc lập kinh tế thành một quá trình không thể đảo ngược, buộc toàn bộ hệ thống phải chuyển mình sang quỹ đạo xã hội chủ nghĩa một cách triệt để.
Từ việc khảo sát toàn diện các sử liệu kinh tế, chính trị và quân sự của Cách mạng Cuba, chúng ta có thể hệ thống hóa các phương pháp luận cốt lõi và rút ra những thông điệp mang tính thời đại về chân dung nhà lãnh đạo Fidel Castro.
Ý nghĩa và phương pháp luận của các mô hình cải cách
Mô hình cải cách do Fidel thiết lập mang ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc đối với khoa học quản trị quốc gia trong thời kỳ quá độ:
* Sự kết hợp giữa lý tưởng triệt để và thực tiễn khách quan thể hiện ở việc Fidel không sa vào chủ nghĩa giáo điều. Dù mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa triệt để, ông luôn kiểm nghiệm lý thuyết bằng thước đo thực tiễn đời sống nông dân, từ đó thiết lập hạn mức sở hữu đất đai dựa trên năng suất khai thác thực tế, bảo vệ quyền sở hữu cho những đơn vị sản xuất có hiệu quả.
* Quản trị dựa trên sự đồng thuận tình nguyện tạo nên một phương pháp xây dựng các hợp tác xã bằng sự hợp nhất tự giác của những tiểu nông độc lập. Phương pháp này đã chứng minh hiệu quả bền vững, chấm dứt sự cô lập và hy sinh của các hộ gia đình mà không cần áp dụng biện pháp cưỡng bức, tránh được các tổn thương cấu trúc xã hội mà các quốc gia đi trước từng mắc phải.
* Cơ chế phản ứng tương xứng và chủ động thông qua việc biến áp lực chống phá thành động lực đẩy nhanh quốc hữu hóa cho thấy phương pháp luận biến nguy cơ thành cơ hội. Điều này giúp chính phủ giữ vững thế chủ động chiến lược trước các lệnh trừng phạt và bao vây kinh tế từ bên ngoài.
* Phương pháp thuyết phục bằng lý lẽ và uy tín cá nhân được vận dụng khi đối diện với các yêu sách kinh tế phi thực tế của quần chúng. Fidel không áp đặt mệnh lệnh hành chính mà sử dụng tư duy thực tế và lý lẽ thấu đáo để định hướng nhận thức đám đông. Đây là phương pháp quản trị tâm lý đám đông rất khoa học, dựa trên nền tảng sự tin cậy giữa lãnh tụ và nhân dân.
* Phương pháp phân cấp chỉ huy ủy quyền tự động bằng việc thiết lập sơ đồ phân nhiệm quốc phòng rõ ràng, giao quyền chỉ huy cho các tư lệnh vùng như Raúl, Che và Almeida. Hệ thống này đã tạo ra một bộ máy vận hành hoàn hảo, giảm thiểu sự phụ thuộc vào điều hành tập trung và phát huy tối đa tính năng động của địa phương trong khủng hoảng.
* Phương pháp trọng dụng nhân tài qua thực tiễn thể hiện ở việc đặt niềm tin vào các chiến sĩ cách mạng liêm chính như Che Guevara, đánh giá họ qua sức đọc, sức quan sát và hiệu quả công việc thực tế chứ không qua bằng cấp. Đây là bài học kinh điển về công tác nhân sự trong điều hành vĩ mô.
Giai đoạn đầu của Cách mạng Cuba để lại những thông điệp sâu sắc về phẩm chất của một nhà lãnh đạo kiệt xuất: Sức mạnh của tấm gương và đạo đức cách mạng được Fidel Castro khẳng định thông qua niềm tin sâu sắc vào tầm quan trọng của tấm gương, tư tưởng và tinh thần giác ngộ đạo đức như những yếu tố cơ bản làm cho Cách mạng trường tồn. Sự mến mộ của nhân dân không đến từ các khẩu hiệu, mà đến từ sự liêm chính và tinh thần đồng cam cộng khổ trong lao động tình nguyện giống như di sản thực tiễn mà Che Guevara để lại.
Bản lĩnh đối diện với sự thiếu kinh nghiệm mang lại thông điệp lớn từ chính lời thừa nhận của Fidel về việc đất nước phải trả giá đắt cho sự thiếu kinh nghiệm của mình khi để đối phương dễ dàng phong tỏa tài sản. Nhà lãnh đạo lớn không phải là người không mắc sai lầm, mà là người biết nhìn thẳng vào sự thiếu sót để điều chỉnh bộ máy kịp thời.
Sự kiên định chính trị trước áp lực bạo lực là thông điệp cốt lõi của Fidel trước hơn 600 âm mưu ám sát và các chiến dịch khủng bố tàn bạo. Sự vững vàng của người đứng đầu chính là chất keo kết dính, đập tan tâm lý hoang mang, ngăn chặn sự lộn xộn và duy trì khối đoàn kết thống nhất toàn dân tộc.
Tóm lại, mô hình cải cách của Fidel Castro trong giai đoạn đầu của Cách mạng Cuba là một mô hình quản trị mang tính triệt để nhưng bám sát thực tiễn xã hội. Fidel Castro nổi bật với vai trò người chịu trách nhiệm cao nhất về tính định hướng của các sắc luật nông nghiệp và công nghiệp, đồng thời là trung tâm điều hòa các xung đột chính trị để bảo vệ khối đoàn kết dân tộc. Ý nghĩa phương pháp luận từ các chính sách kinh tế tự nguyện, phương pháp lãnh đạo bằng lý lẽ, sự phân cấp chỉ huy khoa học cùng bản lĩnh kiên cường của ông trước các chiến dịch phá hoại toàn diện từ bên ngoài, đã biến những lý tưởng cách mạng thành một nền tảng vững chắc. Các thông điệp lịch sử về đạo đức nêu gương, tinh thần tự phê bình và lòng kiên định chính trị của Fidel Castro vẫn vẹn nguyên giá trị khoa học, giúp chính thể non trẻ vượt qua những cơn chấn động lịch sử khốc liệt nhất để trường tồn./.
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr323
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr330
2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr329
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr329
1 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr327
2 Một trăm giờ với Fided: Những cuộc trò chuyện với Ignacio Ramonet, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, Tr332