13-8-1926: Cậu bé Fidel Alejandro Castro Ruz sinh ra tại trang trại Manacas, ở Birán, vùng Mayarí, tỉnh Oriente cũ (nay là tỉnh Holguín).
14-6-1928: Ernesto Guevara de la Serna sinh ra ở Rosario de Santa Fe (thành phố Rosario, tỉnh Santa Fe), Áchentina, sau này, ông được biết đến với cái tên “Che”.
24-10-1929: “Ngày thứ năm đen tối”, thị trường chứng khoán New York sụp đổ, gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng ở Mỹ và tác động đến Cuba. Hàng chục ngàn công nhân Cuba mất việc làm.
9-1330: Bé Fidel lần đầu tiên đến lớp tại ngôi trường công nhỏ bé ở Birán.
Cuối 1932: Fidel Castro được bố mẹ gửi đến thành phố Santiago de Cuba, và trọ tại nhà cô giáo Eufrasia Feliú, trong điều kiện vật chất eo hẹp.
30-1-1933: Adolfo Hitler (Hítle) lên cầm quyền ở Đức.
12-8-1933: Tên độc tài Cuba Gerardo Machado bị lật đổ sau một cuộc tổng đình công và một chính phủ lâm thời lên nắm quyền.
14-9-1933: Chính phủ lâm thời bị “Cuộc nổi dậy của các trung sĩ” lật đổ, một trong những tên cầm đầu cuộc nổi dậy là Fulgencio Batista. Ramón Grau San Martín giữ chức tổng thống.
14-1-1934: Fulgencio Batista, Tham mưu trưởng quân đội, lật đổ Tổng thống Ramón Grau San Martín. Từ đấy, trong vòng 10 năm, được sự hậu thuẫn của Mỹ, dưới hình thức này hay hình thức khác, Batista đã thống trị đời sống chính trị ở Cuba, trước tiên là bổ nhiệm các tổng thống bù nhìn: Carlos Mendieta (1934 - 1935), José A.Barnet (1935 - 1936), Miguel Mariano Gómez (1936), Federico Laredo Bru (1936 - 1940) và sau đó, đích thân ông ta tự diễn trò để được bầu làm tổng thống (1940 - 1944).
29-5-1934: Trong khuôn khổ chính sách “Láng giềng tốt”, chính quyền Mỹ thời Tổng thống Franklin Delano Roosevelt huỷ bỏ Điều luật bổ sung Platt được áp đặt vào năm 1901 đối với nước Cộng hoà Cuba mới thành lập, theo đó, Mỹ được tuỳ ý can thiệp vào Cuba.
18-10-1934: Cuộc Vạn lý trường chinh bắt đầu ở Trung Quốc. Mao Trạch Đông dẫn dắt khoảng 10 vạn người Cộng sản tiến vào Diên An, trên một chặng đường dài 13.000km. Cuối cùng, chỉ có khoảng 2 vạn người còn sống sót.
1-1935: Fidel được đặt tên thánh ở Santiago de Cuba, và vào trường Công giáo La Salle cũng tại thành phố này để bắt đầu theo học học kỳ 2, lớp 1 bậc tiểu học.
3-10-1935: Quân phát xít Italia của Benito Mussolini xâm lược Abisinia, ngày nay là Êtiôpia.
Từ 18-7-1936 đến 1-4-1939: Cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha. Nền cộng hoà bị công kích và cuối cùng bị đánh bại bởi các lực lượng theo chủ nghĩa dân tộc được phát xít Italia và Đức quốc xã ủng hộ. Chế độ độc tài của Francisco Franco được thiết lập.
23-8-1939: Đức và Liên Xô ký tại Mátxcơva một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau, được gọi là Hiệp ước Môlôtốp - Ribbentơrốp.
1-9-1939: Quân đội Đế chế thứ ba ở Đức (Đức quốc xã) xâm lược Ba Lan. Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu. Đức và Liên Xô phân chia nước Ba Lan.
9-1939: Fidel Castro vào học trường Dolores, thuộc giáo phái Dòng Tên, ở Santiago de Cuba.
22-6-1941: Đức xâm lược Liên Xô.
9-1942: Fidel Castro vào học trường Belén nổi tiếng ở La Habana, cũng do những người thuộc Dòng Tên cai quản.
10-10-1944: Ramón Grau San Martín, người của Đảng Cách mạng Cuba “chân chính”, lại đảm nhận chức vụ Tổng thống nước Cộng hoà trong bối cảnh được nhân dân rất kỳ vọng, nhưng chẳng bao lâu, chính phủ của ông đã sụp đổ bởi nạn tham nhũng nghiêm trọng.
8-5-1945: Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc ở châu Âu với việc phát xít Đức bị đánh bại.
6-1945: Fidel Castro kết thúc bậc trung học ở trường Belén và đỗ tú tài khoa Văn.
26-6-1945: Đại biểu của 50 quốc gia, trong đó có Cuba, ký vào bản Hiến chương thành lập Liên hợp quốc (ONU), tại San Francisco.
6-8-1945: Mỹ ném quả bom nguyên tử đầu tiên xuống thành phố Hiroshima của Nhật Bản. Khoảng 100.000 người bị thiệt mạng. Mấy ngày sau, một quả bom nguyên tử khác được ném xuống thành phố Nagasaki. Bắt đầu thời đại hạt nhân.
2-9-1945: Nhật Bản đầu hàng, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc ở châu Á - Thái Bình Dương.
4-9-1945: Fidel nhập học tại Đại học La Habana. Ông đăng ký theo học tại các khoa Luật và Khoa học xã hội.
5-3-1946: Winston Churchill có bài phát biểu chống Liên Xô ở Fulton, Mỹ, trong đó đề cập “bức màn thép” chia cắt châu Âu. “Chiến tranh lạnh” bắt đầu.
14-3-1947: Tổng thống Mỹ Harry Truman xác định học thuyết “Kiềm chế” chủ nghĩa cộng sản.
Từ 7 đến 9-1947: Fidel Castro tham gia công cuộc chuẩn bị cho cuộc viễn chinh ở cù lao Confites, nhằm chiến đấu chống chế độ độc tài của tướng Rafael Leónidas Trujillo ở Cộng hoà Đôminica, nhưng bị thất bại.
31-3-1948: Fidel Castro đến Bogotá, thủ đô Côlômbia, một phần trong chuyến đi thăm một số nước Mỹ Latinh để chuẩn bị cho một Đại hội sinh viên.
9-4-1948: Nhà lãnh đạo tự do được nhân dân yêu mến người Côlômbia, Jorge Eliécer Gaitán bị ám sát ở Bogotá, gây ra vụ nổi dậy của nhân dân, được gọi là sự kiện “Bogotazo”. Fidel Castro tham gia các hoạt động trong những ngày “Bogotazo” này.
10-10-1948: Carlos Prío Socarrás, thuộc Đảng Cách mạng Cuba “chân chính” nhận chức Tổng thống nước Cộng hoà và ngày càng làm mất uy tín của chính phủ thuộc Đảng này. Ngày 10-3-1952, ông bị tướng Fulgencio Batista lật đổ.
12-10-1948: Fidel Castro kết hôn với Mirta Díaz - Balart, con gái của một gia đình giàu có và có thế lực chính trị. Hưởng tuần trăng mật ở New York. Họ ly dị vào năm 1955.
4-4-1949: Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương được ký kết và NATO được thành lập.
1-9-1949: Con trai đầu tiên của Fidel Castro ra đời được đặt tên là Fidel Castro Díaz - Balart, gọi thân mật là “Fidelito”.
1-10-1949: Mao Trạch Đông - chỉ huy quân đội đánh chiếm Bắc Kinh, từ ngày 1 tháng 10, tuyên bố thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
14-2-1950: Mao Trạch Đông và Xtalin ký Hiệp ước Hữu nghị Trung - Xô tại Mátxcơva.
6-1950: Fidel Castro học xong đại học và nhận bằng Tiến sĩ Luật và chức vị luật sư.
25-6-1950: Bắt đầu Chiến tranh Triều Tiên.
4-1951: Ở Iran, Thủ tướng Mossadegh quốc hữu hoá ngành dầu mỏ.
16-8-1951: Vài ngày sau khi tự bắn vào bụng khi sắp kết thúc chương trình phát thanh của mình, Thượng nghị sĩ Eduardo Chibás qua đời. Ông là người sáng lập Đảng Nhân dân Cuba “chính thống” vào năm 1947. Fidel Castro gắn bó về mặt chính trị với Đảng này.
10-3-1952: Cuộc đảo chính lần thứ hai của tướng Fulgencio Batista, ba tháng trước cuộc tổng tuyển cử mà ứng cử viên của Đảng Chính thống có nhiều khả năng giành thắng lợi. Tổng thống Carlos Prío Socarrás bị lật đổ. Batista thiết lập một chế độ độc tài đàn áp, phản động và thân Mỹ.
9-4-1952: Cuộc cách mạng xã hội ở Bôlivia. Các mỏ và điền trang bị trưng dụng. Phong trào Dân tộc cách mạng điều hành đất nước cho đến năm 1964.
5-3-1953: Xtalin qua đời ở Mátxcơva.
26-7-1953: Fidel Castro dẫn đầu một nhóm gồm 165 thanh niên tiến hành cuộc tấn công và đánh chiếm trại lính Moncada ở thành phố Santiago de Cuba. Hành động này, theo dự kiến sẽ châm ngòi cho cuộc khởi nghĩa toàn dân chống lại chế độ độc tài Batista, nhưng do những nguyên nhân khách quan, cuộc tấn công bị thất bại.
27-7-1953: Chiến tranh Triều Tiên kết thúc. Bán đảo Triều Tiên bị chia cắt giữa miền Bắc Cộng sản (Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên), đồng minh của Liên Xô và Trung Quốc, miền Nam (Đại Hàn Dân Quốc) do Mỹ chi phối.
1-8-1953: Trong khi rút lui vào vùng núi sau thất bại của cuộc tấn công trại lính Moncada, với ý định tiếp tục cuộc đấu tranh vũ trang, Fidel Castro bị một đội tuần tra quân sự phát hiện và bắt giữ.
3-9-1953: Tại Mátxcơva, Nikita Khrútxốp được bầu làm Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Liên Xô.
16-10-1953: Tại phiên tòa xử Fidel Castro, ông tự bào chữa và trình bày bản biện luận nổi tiếng với tên gọi: “Lịch sử sẽ minh chứng cho tôi”, trong đó, ông tố cáo những tội ác chống lại những người tham gia cuộc tấn công Moncada, vạch rõ tính phi pháp của chế độ Batista, biện hộ cho hành động bạo lực nhằm lật đổ chế độ độc tài và giải thích cương lĩnh chính trị và cách mạng của mình. Fidel bị kết án 15 năm tù.
7-5-1954: Quân đội thực dân Pháp bị thất bại nặng nề ở Điện Biên Phủ trước các lực lượng cách mạng Việt Nam dưới sự chỉ huy của Tướng Võ Nguyên Giáp. Đây là sự kiện lịch sử đánh dấu sự thức tỉnh của các dân tộc thuộc địa.
17-6-1954: Một nhóm lính đánh thuê do CIA tổ chức và trang bị đã lật đổ chính phủ hợp hiến của Tổng thống Jacobo Árbenz, người đã ra sắc lệnh quan trọng về cải cách ruộng đất ở Goatêmala. Che Guevara chứng kiến sự kiện này.
24-8-1954: Ở Braxin, Tổng thống Getulio Vargas, người đã quốc hữu hoá ngành dầu mỏ và tiến hành những cải cách xã hội quan trọng, bị lật đổ bằng một cuộc đảo chính quân sự và đã tự sát tại Phủ Tổng thống.
1-11-1954: Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Angiêri bắt đầu.
27-11-1954: Các lực lượng xuất phát từ Nicaragoa xâm lược Côxta Rica. Một nhóm sinh viên Cuba, dưới sự lãnh đạo của José Antonio Echeverría, Chủ tịch Liên đoàn sinh viên đại học (FEU), đã tìm cách sang Côxta Rica để tham gia bảo vệ chính phủ của Tổng thống José Figueres.
Từ 18 đến 24-4-1955: Hội nghị Á - Phi ở Bandung, Inđônêxia, có sự tham gia của Nehru (Ấn Độ), Chu Ân Lai (Trung Quốc), Nasser (Ai Cập) và Sukarno (Inđônêxia). Thế giới thứ ba ra đời.
14-5-1955: Hiệp ước Vácxava được ký kết, một liên minh quân sự do Liên Xô đứng đầu để đối trọng với khối NATO.
15-5-1955: Fidel Castro và các đồng đội của ông trong cuộc tấn công Moncada bị giam ở nhà tù Đảo Thông (nay là Đảo Thanh niên) được trả tự do sau lệnh ân xá của Batista, do sức ép phi thường của quần chúng.
12-6-1955: Phong trào 26 tháng 7 được chính thức thành lập, với Ban Lãnh đạo toàn quốc đầu tiên do Fidel Castro đứng đầu.
7-7-1955: Do không thể tiếp tục cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài Batista bằng con đường hợp pháp, Fidel Castro lưu vong sang Mêhicô, để từ đấy, tổ chức cuộc khởi nghĩa vũ trang nhân dân.
7-1955: Fidel Castro và Che Guevara gặp nhau lần đầu tiên ở Mêhicô.
14-2-1956: Tại Đại hội lần thứ XX Đảng Cộng sản Liên Xô ở Mátxcơva, Nikita Khrútxốp trình bày một bản báo cáo, trong đó tố cáo những cuộc thanh trừng theo mệnh lệnh của Xtalin và lên án chính sách đàn áp của Xtalin. Trung Quốc không đồng tình với việc lên án đó.
21-10-1956: Ángel Castro Argiz, cha của Fidel Castro, từ trần ở Birán.
Từ 23-10 đến 13-11-1956: Cuộc nổi dậy ở Budapest, Hunggari. Sự can thiệp của quân đội Xô viết.
25-11-1956: Fidel Castro cùng em trai Raúl, Che Guevara và 79 chiến sĩ viễn chinh khác rời cảng Tuxpan của Mêhicô, đi trên con tàu Granma trở về Cuba, nhằm khởi đầu cuộc đấu tranh vũ trang ở vùng núi Sierra Maestra.
30-11-1956: Tại Santiago de Cuba diễn ra cuộc nổi dậy của các lực lượng dân quân thuộc Phong trào 26 tháng 7, dưới sự lãnh đạo của Frank País. Hành động này tuy thất bại
nhưng đã đánh dấu sự khởi đầu của phong trào khởi nghĩa vũ trang nhân dân chống chế độ độc tài Batista.
2-12-1956: 82 chiến sĩ viễn chinh trên con tàu Granma đổ bộ vào vịnh Los Cayuelos, gần bãi biển Las Coloradas, vùng bờ biển phía đông Cuba. Bắt đầu cuộc Chiến tranh cách mạng ở Cuba.
5-12-1956: Đội quân viễn chinh bị quân đội Batista phát hiện và bị phân tán hoàn toàn ở khu vực Alegría de Pío.
18-12-1956: Fidel Castro, Raúl Castro và sáu chiến sĩ viễn chinh khác còn sống sót, gặp nhau ở Cinco Palmas. Hai ngày sau, có thêm Juan Almeida, Che Guevara, Ramiro Valdés và bốn chiến sĩ khác hội tụ.
17-1-1957: Đội quân du kích, sau khi tập hợp được thêm các chiến sĩ viễn chinh khác còn sống sót và một số nông dân xin gia nhập, đã thắng trận đầu tiên, chiếm được trại lính La Plata Abajo. Năm ngày sau, ở Los Llanos del Infierno, lực lượng du kích còn bé nhỏ này đánh thắng trận thứ hai, chống lại đội quân tinh nhuệ của kẻ thù, dưới sự chỉ huy của viên trung úy lúc bấy giờ là Ángel Sánchez Mosquera.
17-2-1957: Herbert Matthews, phụ trách trang xã luận của tờ báo có ảnh hưởng lớn ở Mỹ, The New York Times, đã đến Sierra Maestra để phỏng vấn Fidel Castro. Cùng ngày hôm đó diễn ra cuộc họp đầu tiên tại căn cứ này của Ban Lãnh đạo toàn quốc Phong trào 26 tháng 7 kể từ lúc khởi đầu cuộc chiến tranh. Tên phản bội Eutimio Guerra bị bắt và bị hành quyết.
28-5-1957: Quân du kích tấn công và chiếm được trại lính địch ở El Uvero, trận đánh mà Che Guevara cho rằng: “Thể hiện sự trưởng thành của Quân khởi nghĩa”. Ít tuần lễ sau, Che được Fidel Castro phong quân hàm Tư lệnh và đảm nhiệm chỉ huy một cánh quân du kích riêng, đơn vị đầu tiên được thành lập do tách ra từ đội quân khởi nghĩa ban đầu.
20-8-1957: Trận đánh ở Palma Mocha do các lực lượng của Cánh quân số 1 “José Martí” tiến hành dưới sự chỉ huy của Fidel Castro.
17-9-1957: Trận đánh đầu tiên ở Pino del Agua.
10-1057: Quân khởi nghĩa chiến đấu và dẹp tan những hành vi cướp bóc, phát sinh tại vùng Caracas, trong dãy núi Sierra Maestra.
11 và 12-1957: Các cánh quân số 1 và số 4 của Quân khởi nghĩa dưới sự chỉ huy của Fidel Castro và Che Guevara đẩy lùi chiến dịch “Cuộc tiến công mùa Đông” của quân đội Batista. Chiến trận diễn ra ở Mota, Gabiro, El Salto, Mar Verde và những nơi khác ở Sierra Maestra.
Từ 16 đến 17-2-1958: Chiến thắng quan trọng của Quân khởi nghĩa trong trận đánh lần thứ hai ở Pino del Agua.
1-3-1958: Các cánh quân du kích mới dưới sự chỉ huy của các Tư lệnh Raúl Castro và Juan Almeida rời chiến khu Sierra Maestra đi lập các mặt trận thứ hai và thứ ba ở các vùng núi khác thuộc tỉnh Oriente.
9-4-1958: Ý đồ phát động tổng đình công toàn quốc của Phong trào 26 tháng 7 thất bại.
25-5-1958: Quân đội Batista tiến hành một cuộc phản công lớn chống lại Quân khởi nghĩa, chiến dịch này đã bị đánh bại sau 74 ngày chiến sự căng thẳng. Trong việc đẩy lùi cuộc phản công này đã diễn ra những trận đánh quan trọng nhất ở Sierra Maestra, trong đó có các trận Jigüe, Santo Domingo và Las Mercedes đều do Fidel Castro chỉ huy. Thất bại của cuộc phản công này đánh dấu bước ngoặt chiến lược quyết định của cuộc chiến tranh.
Cuối 8-1958: Hai cánh quân du kích do các Tư lệnh Che Guevara và Camilo Cienfuegos chỉ huy đã tiến đánh các tỉnh miền Trung và miền Tây Cuba. Vào tháng 10, cả hai cánh quân đều mở các mặt trận chiến đấu mới ở tỉnh miền trung Las Villas.
15-11-1958: Fidel Castro rời Sierra Maestra để chỉ huy cuộc tiến công cuối cùng của Quân khởi nghĩa hướng tới Santiago de Cuba.
30-11-1958: Trận Guisa kết thúc, thắng lợi quan trọng của Quân khởi nghĩa, mở đường tiến về Santiago de Cuba.
1-1-1959: Trước sự sụp đổ quân sự của chế độ, tên độc tài Batista chạy khỏi Cuba, và Quân khởi nghĩa giành chính quyền. Fidel Castro tiến vào Santiago de Cuba.
8-1-1959: Fidel Castro tiến vào La Habana trong chiến thắng. Chính phủ Cách mạng được chính thức thành lập do Thẩm phán Manuel Urrutia làm tổng thống, Luật sư José Miró Cardona làm thủ tướng. Fidel Castro đảm nhận chức Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng.
Từ 23 đến 27-1-1959: Fidel Castro thăm Vênêxuêla. Hơn 30 vạn người tập trung tại Quảng trường Silencio ở Caracas để đón chào và nghe Fidel nói chuyện.
16-2-1959: Fidel Castro nhậm chức Thủ tướng Chính phủ Cách mạng.
Từ 15 đến 27-4-1959: Fidel Castro thăm Mỹ theo lời mời của Hiệp hội các chủ báo Mỹ. Ngày 19-4-1959, Fidel có cuộc gặp với Phó Tổng thống Mỹ, Richard Nixon.
17-5-1959: Công bố Luật Cải cách ruộng đất nhằm thực hiện Cương lĩnh Moncada.
21-10-1959: Hai máy bay xuất phát từ Mỹ xả súng máy xuống các đường phố La Habana, làm hai người thiệt mạng và 50 người bị thương.
28-10-1959: Chiếc máy bay nhỏ chở Tư lệnh Camilo Cienfuegos trên đường trở về La Habana, sau khi ông đập tan được một âm mưu chống cách mạng ở Camagüey, khi bay qua vùng biển đã mất tích.
Cuối tháng 10: Tổng thống Mỹ D. Eisenhower thông qua chương trình do Bộ Ngoại giao và CIA đề xuất, nhằm xúc tiến các hoạt động ngầm chống Cuba, trong đó có cả các cuộc tấn công biệt kích bằng đường không hoặc đường biển, đồng thời hỗ trợ trực tiếp các tổ chức phản cách mạng trong nội địa Cuba.
11-12-1959: Tổng thống D. Eisenhower thông qua một kế hoạch hành động chống Cuba do CIA đề xướng với mục tiêu “lật đổ Castro trong vòng một năm và thay thế ông bằng một hội đồng thân Mỹ”, ngoài ra còn bao gồm cả những biện pháp khác như “tấn công bằng đài phát thanh bí mật”, chèn sóng nội bộ đài phát thanh và truyền hình Cuba, ủng hộ các “nhóm chống đối thân Mỹ”, để chúng có thể “bằng sức mạnh lập ra một khu vực kiểm soát trong nội địa Cuba”, và thực hiện việc thủ tiêu Fidel Castro.
2-1960: Phó Thủ tướng Liên Xô Anastas Mikoyan thăm Cuba. Liên Xô cho Cuba vay 100 triệu đôla và ký các hiệp định mua đường và bán dầu.
Từ 2 đến 3-1960: Hai nhà triết học Pháp Jean Paul Sartre và Simone de Beauvoir thăm Cuba và tọa đàm với Fidel Castro.
4-3-1960: Chiếc tàu Pháp La Coubre chở các thiết bị quân sự bị nổ tung ở cảng La Habana do một âm mưu phá hoại. Có 101 người thiệt mạng (trong đó có 6 thuỷ thủ Pháp) và hơn 200 người bị thương.
8-5-1960: Nối lại quan hệ ngoại giao với Liên Xô mà Batista đã cắt đứt năm 1952.
29-6-1960: Cuba can thiệp vào các nhà máy lọc dầu của các Công ty dầu Texas, Shell và Esso Standard khi các giám đốc điều hành các công ty này từ chối chế biến dầu thô nhập từ Liên Xô.
6-7-1960: Tổng thống Mỹ D. Eisenhower ký Luật ngừng mua 72 tiếng đồng hồ và hơn 1.200 tên bị bắt làm tù binh. Nhiều tàu chiến của Mỹ chở đầy lính trên boong đậu ở vùng nước gần vịnh Con Lợn trong ba ngày liền, sẵn sàng can thiệp.
28-5-1961: Một vụ đánh bom khủng bố tại rạp chiếu phim Riego ở Pinar del Río trong một buổi biểu diễn cho thiếu niên, làm hàng chục em bị thương.
30-6-1961: Fidel Castro phát biểu “Vài lời với các trí thức” rằng: “Đi với Cách mạng sẽ có tất cả, chống lại Cách mạng sẽ mất tất cả”.
7-1961: ORI (Các tổ chức Cách mạng hợp nhất) được thành lập, hợp nhất Phong trào 26 tháng 7, Đảng Xã hội Nhân dân của Blas Roca và Ban Chỉ đạo sinh viên Cách mạng “13 tháng 3” của Faure Chomón. Anibal Escalante, cựu lãnh đạo Đảng Xã hội Nhân dân được chỉ định làm tổng bí thư.
17-7-1961: Patricio Lumumba bị sát hại ở Cônggô.
Từ 12-8 đến 20-11-1961: Xây bức tường Berlin.
22-12-1961: Kết thúc chiến dịch toàn quốc xoá nạn mù chữ với tuyên bố Cuba là “lãnh thổ không còn nạn mù chữ”.
22-1-1962: Theo yêu cầu của Mỹ, Cuba bị loại khỏi Tổ chức các nước châu Mỹ (OEA).
3-2-1962: Tổng thống Kennedy ra lệnh áp đặt bao vây kinh tế, thương mại và tài chính đối với Cuba, kéo dài cho tới giai đoạn hiện nay với âm mưu bóp nghẹt Cuba về kinh tế và kích động sự bất bình trong dân chúng.
4-2-1962: Hơn một triệu người Cuba tập trung tại Quảng trường Cách mạng thông qua Tuyên bố La Habana lần thứ hai: “Nghĩa vụ của mọi người Cách mạng là làm Cách mạng”.
7-2-1962: Washington cấm nhập các hàng hoá của Cuba.
12-3-1962: Luật 1015 của Chính phủ Cách mạng quy định chính sách phân phối công minh khẩu phần gia đình phù hợp
với khả năng cung cấp thực phẩm của đất nước. Đặt ra chế độ tem phiếu.
13-3-1962: Fidel Castro công khai lên án chủ nghĩa bè phái trong nội bộ ORI. Anibal Escalante bị cách chức.
14-3-1962: Chính quyền Kennedy thông qua một kế hoạch bí mật đồ sộ mở các chiến dịch “nhằm giúp Cuba lật đổ chế độ cộng sản”. Chương trình về “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” này còn được đặt tên là “Chiến dịch Con chồn” (Operation Mangosta).
26-3-1962: ORI được đổi tên thành Đảng Thống nhất Cách mạng xã hội chủ nghĩa Cuba (PURSC).
5-7-1962: Chiến tranh Angiêri kết thúc. Đất nước tuyên bố độc lập.
22-10-1962: Cuộc khủng hoảng tháng 10 bắt đầu. Tổng thống Kennedy ra lệnh dùng hải quân phong toả Cuba để buộc Liên Xô phải tháo dỡ các tên lửa đã được lắp đặt bí mật theo đề nghị của họ và được sự đồng ý của Cuba, nhằm làm thất bại các kế hoạch mới của Mỹ trực tiếp xâm lược Cuba. Vài ngày sau, mặc dù không tham khảo ý kiến các nhà chức trách Cuba là những người đã không tán thành việc giữ bí mật hành động lắp đặt tên lửa, cuối cùng Mátxcơva vẫn rút các tên lửa; Kennedy lấy danh nghĩa cá nhân, hứa sẽ không xâm lược Cuba.
23-12-1962: Tàu buôn Mỹ African Pilot cập cảng La Habana, chở theo một phần hàng hoá do Cuba yêu cầu để bồi thường cho những thiệt hại về vật chất và con người do cuộc xâm lược ở vịnh Con Lợn gây ra. Bọn xâm lược bị bắt và bị toà án Cuba xét xử đều được trả về Mỹ.
Từ 27-4 đến 3-6-1963: Chuyến thăm Liên Xô đầu tiên của Fidel Castro.
6-8-1963: Bà Lina Ruz González, mẹ của Fidel Castro qua đời.
4-10-1963: Cơn bão Flora tàn phá khu vực miền Đông Cuba, gây thiệt hại nặng nề về người và kinh tế. Fidel Castro tuyên bố: “Một cuộc cách mạng có sức mạnh lớn hơn cả thiên nhiên”.
10-1063: Theo đề nghị của Tổng thống Angiêri Ahmed Ben Bella, Cuba cử một tiểu đoàn gồm 22 xe tăng và vài trăm binh sĩ, dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Efigenio Ameijeiras, sang giúp quân đội Angiêri đánh trả cuộc tấn công của Marốc ở khu vực Tinduf. Đây là sự hợp tác quân sự trên tinh thần quốc tế chủ nghĩa đầu tiên của Cuba ở châu Phi.
22-11-1963: Tổng thống Mỹ John F. Kennedy bị ám sát ở thành phố Dallas (bang Texas). Vào thời điểm đó, Kennedy đã tính tới khả năng tăng cường quan hệ với Cuba.
1-4-1964: Cuộc đảo chính quân sự lật đổ tổng thống có tư tưởng cải cách của Braxin, Joao Goulart, người vừa tuyên bố quốc hữu hoá các nhà máy lọc dầu tư nhân.
14-10-1964: Ở Mátxcơva, Nikita Khrútxốp bị hạ bệ. L. Brêgiơnép được bầu làm Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Liên Xô.
Từ 22 đến 27-2-1965: Hội nghị Á - Phi tại Angiêri. Che Guevara có bài phát biểu.
4-1965: Trong thư gửi Fidel sẽ được công bố vào tháng 10, Che Guevara chính thức tạm biệt Cuba và bí mật sang châu Phi để hỗ trợ các lực lượng du kích ở Cônggô: “Những miền đất khác trên thế giới đang cần đến những đóng góp khiêm tốn của tôi”.
28-4-1965: Lính thuỷ đánh bộ Mỹ đổ bộ lên nước Cộng hoà Đôminica để chống các lực lượng hợp hiến do Đại tá Francisco Caamaño lãnh đạo, ủng hộ Tổng thống có tư tưởng cải cách Juan Bosch trở lại nắm chính quyền. Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson tuyên bố: “Chúng ta sẽ không cho phép có một Cuba thứ hai ở vùng Caribê”.
3-10-1965: Đảng Cộng sản Cuba (PCC) được thành lập. Fidel Castro được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương. Trong buổi lễ thành lập Đảng, Fidel giải thích lý do vắng mặt của Che Guevara và đọc lá thư chia tay của Che.
10-1965: Cuộc khủng hoảng di cư đầu tiên. Cảng Camarioca được sửa sang làm nơi đưa những ai muốn rời khỏi đất nước đến Mỹ.
1-1966: Hội nghị ba châu tại La Habana tập hợp các phong trào giải phóng của hơn 70 nước Á, Phi và Mỹ Latinh.
16-5-1966: Khởi đầu cuộc “Cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc.
2-11-1966: Quốc hội Mỹ thông qua Luật Điều chỉnh đối với Cuba, vẫn còn hiệu lực đến nay. Với việc tạo những điều kiện thuận lợi đặc biệt cho những người Cuba đến Mỹ bằng các con đường bất hợp pháp, luật này đã khuyến khích việc di cư bất hợp pháp, khiến rất nhiều người bị thiệt mạng.
9-10-1967: Che Guevara bị giết hại sau khi bị quân đội Bôlivia bắt giữ trong một trận đánh, lúc ông đang lãnh đạo một phong trào du kích ở Bôlivia.
1-1968: Phiên tòa xử 35 thành viên của “nhóm bè phái thân Liên Xô” do Anibal Escalante cầm đầu.
3-1968: Chính phủ Cuba tịch thu toàn bộ các doanh nghiệp tư nhân trong nước, trừ các cơ sở nông nghiệp nhỏ.
5-1968: Phong trào sinh viên trên toàn thế giới phản đối xã hội tư bản chủ nghĩa phương Tây. Hàng chục nghìn thanh niên ở Mỹ, Đức, Pháp, Italia - thường giương hình ảnh Che Guevara - đòi thay đổi đường lối chính trị và lối sống.
21-8-1968: Quân đội của Khối Vácxava can thiệp vào Tiệp Khắc theo đề xuất của Liên Xô. Trong diễn văn ngày 23 tháng 8, Fidel Castro lên tiếng tán thành có mức độ sự can thiệp đó.
18-5-1970: Cuba công bố không đạt được mục tiêu 10 triệu tấn đường trong vụ thu hoạch mía năm đó.
25-10-1971: Sau chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger tại Bắc Kinh, Đài Loan bị trục xuất khỏi Liên hợp quốc và Trung Quốc thay thế vị trí của một trong năm ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
Từ 10-11 đến 4-12-1971: Fidel Castro thăm Chilê dưới thời Chính phủ của khối Đoàn kết nhân dân do Salvador Allende đứng đầu.
21-2-1972: Tổng thống Mỹ Richard Nixon đến Bắc Kinh và có cuộc gặp với Mao Trạch Đông.
22-5-1972: Tổng thống Nixon thăm Mátxcơva và có cuộc gặp với L. Brêgiơnép. Hai bên ký một hiệp định cùng cắt giảm vũ khí hạt nhân.
7-1972: Cuba gia nhập Hội đồng Tương trợ kinh tế (COMECON), thị trường chung của các nước xã hội chủ nghĩa.
1-1973: Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Từ tháng 6 năm 1969, Mỹ đã bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam và cam kết sẽ không can thiệp quân sự.
Từ 5 đến 10-9-1973: Fidel Castro dự Hội nghị Cấp cao lần thứ IV các nước Không liên kết tại thủ đô Angiêri.
11-9-1973: Đảo chính quân sự ở Chilê và Salvador Allende thiệt mạng. Tướng Augusto Pinochet thiết lập chế độ độc tài tàn bạo, được Mỹ hậu thuẫn.
25-4-1974: Cuộc Cách mạng Hoa Cẩm Chướng tại Bồ Đào Nha. Chế độ độc tài sụp đổ.
8-8-1974: Tại Washington, do vụ bê bối Watergate, Tổng thống Richard Nixon phải từ chức. Phó Tổng thống Gerald Ford lên thay.
11-1974: Các quan chức Cuba và Mỹ bắt đầu đàm phán để tìm giải pháp cho cuộc khủng hoảng di cư.
4-1975: Người Mỹ bỏ chạy tán loạn khỏi Sài Gòn (trong cuộc tổng tấn công Đại thắng mùa Xuân 1975 ở Việt Nam).
17-4-1975: Ở Campuchia, bọn Khơme Đỏ chiếm Phnôm Pênh. Khởi đầu nạn diệt chủng chống lại dân cư đô thị và các dân tộc thiểu số.
30-4-1975: Quân đội Việt Nam tiến vào Sài Gòn, (sau này được đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh). Chiến tranh ở Việt Nam kết thúc với chiến thắng thuộc về người Việt Nam.
25-6-1975: Chính phủ mới ở Bồ Đào Nha được thiết lập sau cuộc Cách mạng Hoa Cẩm Chướng, tuyên bố trao trả độc lập cho Ănggôla.
11-11-1975: Chiến dịch Carlota bắt đầu. Cuba lập cầu hàng không và đưa hàng nghìn quân tình nguyện sang Ănggôla. Đội quân này đã ngăn chặn được quân đội Nam Phi và Zaia tiến vào Luanda để cản trở nền độc lập của Ănggôla.
20-11-1975: Tướng Franco ở Tây Ban Nha qua đời. Vua Juan Carlos lên ngôi.
15-2-1976: Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của Cuba được thông qua với đa số áp đảo trong cuộc trưng cầu ý dân toàn quốc.
9-9-1976: Mao Trạch Đông qua đời tại Bắc Kinh.
6-10-1976: Một máy bay dân sự của Cuba bị nổ tung trên không ngoài khơi bờ biển Bắcbađốt, một vụ phá hoại làm 73 người thiệt mạng. Các nhà cầm quyền Vênêxuêla và Bắcbađốt đều khẳng định tác giả của vụ phá hoại này là hai tên khủng bố gốc Cuba Orlando Bosch và Luis Posada Carriles. Cả hai đều bị bắt.
11-2-1977: Đại tá Mengistu Haile Mariam lên nắm quyền ở Êtiôpia.
1-9-1977: Nước Mỹ dưới quyền Tổng thống James Carter và Cuba mở văn phòng ngoại giao (“Văn phòng Đại diện quyền lợi”) ở thủ đô của hai nước.
3-1978: Với sự tham gia của quân đội Cuba, Êtiôpia giành thắng lợi trong chiến dịch Ogadén chống sự xâm lược của Xômali.
28-7-1978: Liên hoan Thanh niên và Sinh viên thế giới lần thứ 11 khai mạc tại La Habana.
16-10-1978: Tại Vaticăng, Hồng y Karol Wojtyla người Ba Lan được bầu làm Giáo hoàng và lấy danh hiệu là Giăng Pôn II.
24-12-1978: Quân đội Việt Nam tiến vào nước Campuchia dưới ách cai trị của Khơme Đỏ, và chiếm được Phnôm Pênh ngày 7 tháng 1 năm 1979 (giải phóng nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng của Pôn Pốt - Iêng Sary).
16-1-1979: Cuộc Cách mạng Hồi giáo ở Iran. Vua Reza Pahlevi bị lật đổ. Giáo chủ Khômêni (Ali Khamenei), lãnh tụ tinh thần của Iran trở về Têhêran ngày 1 tháng 2.
19-7-1979: Thắng lợi của cuộc Cách mạng Sandino ở Nicaragoa.
Từ 3 đến 9-9-1979: Hội nghị Cấp cao lần thứ VI Phong trào các nước Không liên kết tại La Habana. Fidel Castro đảm nhận cương vị Chủ tịch của Phong trào.
27-12-1979: Quân đội Liên Xô tiến vào Ápganixtan.
4-1980: Cuộc khủng hoảng di cư lần thứ hai. Cầu hàng hải từ cảng Mariel được thiết lập, sau khi Chính phủ Cuba tuyên bố cho phép bất kỳ ai muốn rời khỏi đất nước. Tính đến cuối tháng 9, có hơn 125 nghìn người Cuba ra đi.
4-5-1980: Thống chế Titô qua đời ở Bengrát.
18-7-1980: Fidel Castro dự các hoạt động kỷ niệm chiến thắng của Cách mạng Sandino tại Managoa (Nicaragoa) lần thứ nhất. Fidel cam kết sẽ giúp đỡ Chính phủ Sandino trong cuộc chiến đấu chống bọn “Contra” (đối lập) được Mỹ hậu thuẫn.
14-8-1980: Ở Ba Lan, bắt đầu một cuộc đình công tại các nhà máy đóng tàu ở Gdansk. Bạo động lan ra khắp cả nước. Chính phủ Ba Lan và Công đoàn Đoàn kết do Lech Walesa lãnh đạo, ký các thỏa thuận.
11-9-1980: Nhà ngoại giao Cuba Félix García bị các thành viên của tổ chức khủng bố Omega-7 ám sát ở New York.
6-1981: Ở Trung Quốc, Hoa Quốc Phong, người kế nhiệm Mao Trạch Đông bị bãi chức Chủ tịch Đảng Cộng sản. Người thuộc phái cải cách Đặng Tiểu Bình nắm thực quyền.
18-10-1981: Tướng Wojciech Jaruzelski được bầu làm Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Ba Lan.
22-10-1981: Hội nghị cấp cao Bắc-Nam họp ở Cancun, Mêhicô. 22 nguyên thủ quốc gia cam kết sẽ mở một cuộc đàm phán toàn cầu giữa các nước giàu và các nước nghèo. Washington gây sức ép yêu cầu Cuba không được tham dự mặc dù Cuba đang giữ chức Chủ tịch Nhóm 77.
Từ 2-4 đến 13-6-1982: Cuộc chiến tranh Malvinas. Các lực lượng Anh tái chiếm quần đảo mà Áchentina tuyên bố thuộc chủ quyền của mình.
18-10-1982: Với sự can thiệp của Tổng thống François Mitterand, người được ngộ nhận là nhà thơ Armando Valladares, kẻ đã giả vờ bị bại liệt, được trả tự do ở La Habana, sau khi chịu mức án 22 năm tù vì tội khủng bố.
25-10-1983: Quân đội Mỹ can thiệp vào Grênađa sau vụ sát hại Thủ tướng Maurice Bishop. Các công nhân viên dân sự Cuba đang hợp tác ở đất nước này đã phải trải qua cuộc xâm lược, một số bị chết trong chiến đấu hoặc bị giết hại. Khoảng 600 người Cuba bị bắt làm tù nhân và được trao trả cho Cuba.
16-2-1984: Chuyến thăm đầu tiên của Fidel Castro tại Tây Ban Nha trong dịp dừng chân ngắn ở đây, trên đường từ Mátxcơva về nước. Fidel Castro có cuộc gặp với Thủ tướng Tây Ban Nha Felipe González tại cung Moncloa.
12-1984: Hiệp định đầu tiên về vấn đề di cư được ký kết giữa Cuba và Mỹ.
11-3-1985: M. Goócbachốp lên nắm quyền ở Liên Xô và bắt đầu chỉnh lý hệ thống chính trị và kinh tế của đất nước. Ông công bố các chính sách “glasnot” (công khai hoá) và “perestroika” (cải tổ).
3-8-1985: Fidel Castro dự cuộc gặp gỡ quốc tế tổ chức tại La Habana về vấn đề nợ nước ngoài, một phần của chiến dịch do Cuba phát động chống lại gánh nặng nợ nần mà các nước nghèo phải chịu đựng. “Lẽ nào những người bị áp bức phải trả nợ cho những kẻ áp bức?”.
2-1986: Fidel Castro lại thăm Mátxcơva và gặp thân mật Goócbachốp.
19-4-1986: Ở Cuba, bắt đầu quá trình chấn chỉnh những sai lầm và những biểu hiện tiêu cực. Fidel vạch rõ những sai lầm trong công tác lãnh đạo của Đảng, khuynh hướng chạy theo kinh tế, các tệ nạn quan liêu, ích kỷ và tham nhũng.
25-4-1986: Vụ nổ nhà máy điện nguyên tử Chécnôbưn ở Ucraina. Cuba dành sự giúp đỡ đáng kể cho việc phục hồi sức khoẻ đối với hàng nghìn trẻ em bị ảnh hưởng do vụ tai nạn.
11-1986: Thủ tướng Tây Ban Nha Felipe González thăm chính thức Cuba.
26-7-1988: Fidel Castro bác bỏ “cải tổ” của Goócbachốp, coi đó là việc làm “nguy hiểm” và “đi ngược lại các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội”.
3-4-1989: Mikhain Goócbachốp thăm Cuba.
6-1989: M. Goócbachốp thăm Bắc Kinh và gặp Đặng Tiểu Bình, chấm dứt bất đồng Trung - Xô. Xảy ra sự kiện ở Quảng trường Thiên An Môn.
14-6-1989: Phiên tòa xử Tướng Arnaldo Ochoa, Đại tá Antonio de la Guardia và các sĩ quan cao cấp khác của các lực lượng vũ trang và lực lượng an ninh quốc gia Cuba có liên quan đến vụ buôn lậu ma tuý. Arnaldo Ochoa, Antonio de la Guardia và hai sĩ quan khác bị kết án tử hình và bị xử bắn ngày 13 tháng 7.
26-7-1989: Trong một bài diễn văn, Fidel Castro khẳng định rằng cho dù một ngày nào đó Liên Xô biến mất, Cách mạng Cuba vẫn sẽ tiếp tục tiến lên.
9-11-1989: Bức tường Berlin bị phá bỏ. Các chính phủ thuộc phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lần lượt sụp đổ.
20-12-1989: Cuộc nổi dậy của quần chúng tại Rumani. Chính phủ sụp đổ, Chủ tịch Nicolae Ceausescu bị xử bắn mấy ngày sau đó.
26-12-1989: Vụ can thiệp quân sự đẫm máu của Mỹ vào Panama. Tướng Manuel Antonio Noriega bị lật đổ và bị bắt giữ.
4-1990: Đảng Sandino thất bại trong cuộc bầu cử ở Nicaragoa. Kết thúc cuộc Cách mạng Sandino.
21-5-1991: Ở Êtiôpia, Đại tá Mengistu Haile Mariam bị lật đổ và phải chạy trốn khỏi đất nước.
25-5-1991: Những đơn vị cuối cùng của Cuba rút khỏi Ănggôla, sau khi hiệp định hoà bình được ký kết. Không có sự can thiệp về quân sự của Cuba, Chính phủ Luanda không thể đứng vững trước cuộc can thiệp của quân đội Nam Phi. Sự thất bại của Nam Phi tạo điều kiện cho Namibia được độc lập và thúc đẩy nhanh sự sụp đổ của chế độ phân biệt chủng tộc Apácthai.
11-9-1991: M. Goócbachốp tuyên bố rút về nước 7.000 quân Liên Xô đóng tại Cuba.
12-1991: Sự sụp đổ của Liên Xô đặt dấu chấm hết cho các mối quan hệ kinh tế và thương mại của nước này với Cuba. Trong ba năm tiếp theo, kinh tế của Cuba sụt giảm 35%.
1-1-1992: Năm thứ nhất của “Thời kỳ đặc biệt”. Nhiều người trên thế giới dự đoán Cách mạng Cuba nhất định sẽ sụp đổ.
6-1992: Fidel Castro dự Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất tổ chức tại Río de Janeiro.
7-1992: Fidel Castro dự Hội nghị Thượng đỉnh Iberoamericana (gồm Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Mỹ Latinh) họp tại Madrid. Nhận lời mời của Thống đốc Manuel Fraga, Fidel thăm vùng Galicia(*), đặc biệt là ngôi làng Láncara, tỉnh Lugo, nơi sinh của cha ông.
10-1992: Quốc hội Mỹ thông qua Luật Torricelli, siết chặt phong toả kinh tế và thương mại chống Cuba.
24-2-1993: Cuộc bầu cử lập pháp trực tiếp đầu tiên bầu ra 601 đại biểu Quốc hội Cuba. Đảng Cộng sản không đưa ra danh sách chính thức. Fidel Castro được bầu làm đại biểu của tỉnh Santiago de Cuba và được Quốc hội bầu lại làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng.
(*) Galicia: ngày nay là một khu tự trị trong Vương quốc Tây Ban Nha, có chính phủ riêng - ND.
27-7-1993: Nông dân trồng trọt và chăn nuôi được phép mở các chợ nông nghiệp, làm ăn cá thể, thực hiện chế độ chia nhỏ ruộng đất ở nông thôn, trong đó nông dân được bán một phần sản phẩm ra thị trường tự do. Lệnh cấm sử dụng đồng đôla cũng được bãi bỏ và công dân Cuba được phép nhận tiền từ nước ngoài gửi về. Khuyến khích du lịch và bắt đầu từ tháng 9, cho phép doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ được hoạt động.
22-11-1993: Chủ tịch Trung quốc Giang Trạch Dân thăm Cuba.
5-1994: Fidel Castro dự lễ nhậm chức của Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela.
13-7-1994: Vụ chiếc tàu bị những người di cư bất hợp pháp cướp đoạt chạy sang Mỹ bị đắm trên biển làm khoảng 30 người chết.
5-8-1994: Những vụ gây rối ở La Habana bắt nguồn từ những thông tin xuyên tạc từ các đài phát thanh chống Cuba ở Miami. Fidel đích thân đến nơi để trấn an những người gây rối.
11-8-1994: Trước việc Chính phủ Mỹ vi phạm có hệ thống các hiệp định về di cư đã ký kết với Cuba, Fidel Castro tuyên bố sẽ không ngăn cấm người Cuba muốn rời khỏi đất nước. Hàng nghìn “thuyền nhân” tìm cách đến Mỹ bằng đường biển.
9-9-1994: Hiệp định mới về di cư được ký kết ở New York. Mỹ cam kết sẽ cấp mỗi năm không dưới 20.000 visa và sẽ trả lại Cuba tất cả những người di cư bất hợp pháp bị chặn lại trên biển, buộc họ phải xin được cấp visa và ra đi có trật tự.
14-12-1994: Tại sân bay La Habana, Fidel Castro đón Trung tá binh chủng dù Vênêxuêla Hugo Chávez với nghi lễ đặc biệt, ông này được ra khỏi nhà tù Yare tám tháng trước đó, lý do ngồi tù là vì đã tham gia vào cuộc nổi dậy năm 1992 chống chính phủ của Carlos Andrés Pérez.
24-2-1996: Máy bay quân sự Cuba bắn rơi hai máy bay do thám do nhóm phi công thuộc tổ chức phản cách mạng “Huynh đệ cứu hộ” điều khiển đã nhiều lần vi phạm không phận Cuba.
5-3-1996: Quốc hội Mỹ thông qua Luật Helms-Burton, được Tổng thống Clinton phê chuẩn ngày 12 tháng 3, siết chặt hơn nữa hành động bao vây kinh tế chống Cuba và đe dọa sẽ trả đũa mọi hoạt động đầu tư của nước ngoài vào Cuba, và áp đặt các hình phạt đối với công ty nước ngoài nào sử dụng các tài sản của công dân Mỹ đã bị quốc hữu hoá ở Cuba.
Từ 4 đến 7-1997: Một loạt vụ đánh bom nhằm vào các khách sạn ở La Habana và Varadero, do các nhóm khủng bố ở Miami bảo trợ. Một trong các vụ đánh bom đó đã làm chết một du khách trẻ người Italia tên là Fabio Di Celmo.
10-9-1997: Một công dân En Xanvađo tên là Raúl Cruz León bị bắt ở La Habana. Tên này thú nhận đã thực hiện 6 vụ đánh bom các khách sạn và khai rằng những phần tử lưu vong Cuba ở Miami đã hứa trả 4.500 đôla cho mỗi vụ đánh bom. Rõ ràng là tên khủng bố người gốc Cuba Luis Posada Carriles đã tham gia vào việc tổ chức các vụ đánh bom này.
10-1997: Đại hội lần thứ V Đảng Cộng sản Cuba, Fidel Castro được bầu lại làm Bí thư thứ nhất và Raúl Castro là Bí thư thứ hai.
17-10-1997: Sau một thời gian dài tìm kiếm ở Bôlivia, thi thể của Che Guevara đã được tìm thấy, đưa về Cuba và được mai táng trong lăng tưởng niệm ông ở Santa Clara. Trong điếu văn tại lễ mai táng, Fidel ca ngợi: “Bất cứ nơi nào có một sự nghiệp chính nghĩa cần được bảo vệ, ở đó có anh; anh là một nhà tiên tri đối với tất cả những người nghèo trên thế giới”.
Từ 21 đến 25-1-1998: Giáo hoàng Giăng Pôn II thăm Cuba.
6-5-1998: Nhà văn Gabriel García Márquez trao bức thông điệp của Fidel Castro gửi Tổng thống Bill Clinton tại Văn phòng Nhà trắng. Trong đó, Fidel thông báo cho Clinton về những hoạt động khủng bố nhằm vào một số địa điểm và máy bay do bọn phản cách mạng Cuba tại Mỹ dàn dựng.
12-7-1998: Trong một bài phỏng vấn đăng trên tờ The New York Times, tên khủng bố gốc Cuba Luis Posada Carriles thừa nhận y đã tổ chức chiến dịch đặt bom ở một số điểm du lịch trong năm 1997 và khẳng định rằng chiến dịch này được Jorge Mas Canosa và Quỹ toàn quốc Cuba - Mỹ (tổ chức của người Mỹ gốc Cuba tài trợ). Y cũng thừa nhận đã trả tiền cho công dân En Xanvađo Raúl Cruz León để đánh bom ở các khách sạn.
8-1998: FBI (Cục Điều tra Liên bang Mỹ) vô tình phát hiện một âm mưu của bọn lưu vong Cuba nhằm ám sát Fidel, nhân dịp ông dự Hội nghị Thượng đỉnh Iberoamericana lần thứ VIII.
9-1998: Năm điệp viên Cuba thâm nhập vào các tổ chức khủng bố của bọn lưu vong Cuba để tìm hiểu về các hoạt động khủng bố chống Cuba, bị bắt ở Miami.
6-12-1998: Tại Vênêxuêla, Hugo Chávez được bầu làm Tổng thống với 56,5% số phiếu ủng hộ.
17-1-1999: Chuyến thăm đầu tiên tới Cuba của Tổng thống Hugo Chávez, trên cương vị Nguyên thủ quốc gia.
Từ 14 đến 16-11-1999: Trong khuôn khổ Hội nghị Thượng đỉnh Iberoamericana lần thứ IX họp tại La Habana, Nhà vua Juan Carlos I thăm Cuba.
25-11-1999: Bé Elián González được cứu ở ngoài khơi Florida, sau khi mẹ em và 10 người Cuba khác tìm cách chạy sang Mỹ bị chết đuối. Nhà cầm quyền Mỹ chịu sức ép của cộng đồng phản cách mạng Cuba ở Miami đã cho phép giữ bé lại thành phố Miami, bất chấp yêu cầu của người cha đòi trả con về Cuba. Chiến dịch rộng lớn ở Cuba đòi trao trả bé Elián bắt đầu.
Từ 30-11 đến 3-12-1999: Hội nghị cấp cao Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) họp ở Seattle, Mỹ. Nhiều cuộc biểu tình phản đối lớn xảy ra. Phong trào thế giới chống toàn cầu hoá tự do mới ra đời.
28-6-2000: Bé Elián González trở về Cuba cùng với bố, sau thất bại của các phe nhóm cực đoan trong cộng đồng phản cách mạng Cuba ở Florida cố vận động để giữ bé ở lại Mỹ.
9-2000: Fidel Castro dự Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York. Trong dịp này, ông đã có một cuộc gặp chớp nhoáng với Tổng thống Clinton. Hai người bắt tay nhau và trao đổi đôi lời thích hợp với tình huống lúc đó. Đây là lần đầu tiên trong vòng 40 năm, một vị Tổng thống Mỹ nói chuyện trực tiếp với Fidel Castro.
Từ 26 đến 30-10-2000: Chuyến thăm cấp nhà nước của Fidel tại Vênêxuêla. Ông được chào đón tại Caracas như một người Anh hùng.
30-10-2000: Hiệp định giữa Cuba và Vênêxuêla được ký kết, theo đó, Caracas sẽ cung cấp cho Cuba 53 nghìn thùng dầu thô mỗi ngày, với giá ưu đãi và trả tiền theo điều kiện thuận lợi (vào thời điểm đó, Cuba tiêu thụ 150.000 thùng mỗi ngày, trong khi Cuba chỉ khai thác được 75.000 thùng). Về phần mình, Cuba sẽ cung cấp cho Vênêxuêla các loại dược phẩm phổ biến cùng dụng cụ y tế và sẽ xây dựng một trung tâm sản xuất vắcxin ở Vênêxuêla. Vào lúc này, gần 15.000 bác sĩ, nha sĩ, bác sĩ nhãn khoa và nhân viên kỹ thuật y tế Cuba đang thực hiện chương trình đầy tham vọng trong từng khu phố (Barrio Adentro) nhằm đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe cho 17 triệu trong số 25 triệu người Vênêxuêla có thu nhập thấp. Ngoài ra, còn có hàng nghìn giáo sư và giáo viên Cuba tham gia chương trình xoá nạn mù chữ và hàng nghìn huấn luyện viên thể thao ở Vênêxuêla.
11-2000: Tình báo Cuba khám phá một âm mưu do tên khủng bố Luis Posada Carriles bố trí nhằm ám sát Fidel Castro ở Panama, trong dịp Hội nghị Thượng đỉnh Iberoamericana lần thứ X. Posada và ba tên khủng bố khác bị các nhà đương cục Panama bắt giữ.
Từ 13 đến 17-12-2000: Tổng thống Nga Vladimir Putin thăm Cuba.
Từ 25 đến 30-1-2001: Diễn đàn xã hội thế giới đầu tiên được tổ chức ở Porto Alegre, Braxin với khẩu hiệu “Một thế giới khác là có thể”. Hơn 30.000 thanh niên từ khắp nơi trên thế giới tụ họp về đây để đề xuất giải pháp thay thế cho xu hướng toàn cầu hóa tự do mới. Phong trào đòi thay đổi thế giới ra đời.
23-6-2001: Fidel bị ngất nhẹ trước công chúng ở khu Cotorro thuộc thành phố La Habana trong khi phát biểu diễn văn kéo dài ba tiếng đồng hồ được truyền hình trực tiếp. Sự cố chỉ xảy ra trong vài phút và được xác định nguyên nhân là do trời quá nắng và nhiệt độ cao. Tám giờ sau đó, Fidel lại xuất hiện trong một chương trình truyền hình để kể lại sự việc đã xảy ra.
Từ 11 đến 13-8-2001: Một chuyến thăm mới của Fidel Castro tại Vênêxuêla. Tổng thống Hugo Chávez tổ chức mừng thọ Fidel tròn 75 tuổi tại thành phố Bolívar (Vênêxuêla).
11-9-2001: Các vụ tấn công phá hủy tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại thế giới ở New York và Lầu Năm góc ở Washington. Gần 3.000 người chết. Fidel Castro cực lực lên án hành động này, bày tỏ lòng thương tiếc đối với các nạn nhân và đề nghị trợ giúp chính quyền Mỹ về hậu cần (tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các sân bay Cuba). Ông tuyên bố rằng các cuộc chiến tranh sẽ không thể loại bỏ vĩnh viễn được chủ nghĩa khủng bố.
7-1-2002: Washington thông báo với Cuba, về dự định thành lập tại căn cứ hải quân Guantánamo bị chiếm đóng, bất chấp ý nguyện của Cuba, một trại giam để tiếp nhận các tù nhân Ápganixtan bị nghi là đã thực hiện các hành động khủng bố quốc tế. Những điều kiện do chính quyền Mỹ đặt ra để đối xử với các tù nhân đã gây ra một vụ bệ bối quốc tế.
11-4-2002: Cuộc đảo chính chống lại Tổng thống Hugo Chávez ở Caracas. Fidel Castro theo dõi sát các diễn biến của sự kiện này. Cuộc đảo chính thất bại và Hugo Chávez trở lại nắm chính quyền vào sáng sớm ngày 14 tháng 4.
6-5-2002: Tổng thống George W.Bush tố cáo vô căn cứ rằng Cuba thực hiện việc nghiên cứu vũ khí sinh học.
Từ 12 đến 17-5-2002: Cựu Tổng thống Mỹ James Carter thăm Cuba. Ông có bài phát biểu tại Giảng đường lớn của Đại học La Habana và được truyền hình trực tiếp.
21-5-2002: Tổng thống George W.Bush đưa Cuba vào danh sách các nước “ủng hộ khủng bố”.
11-11-2002: James Cason, người phụ trách mới của Văn phòng Đại diện quyền lợi Mỹ đến La Habana, và bắt tay ngay vào những hoạt động khiêu khích và can thiệp liên tiếp.
3-2003: Hơn 70 tên phản cách mạng bị bắt, bị xét xử và kết án tù. Chính phủ Cuba đưa ra những bằng chứng về sự liên hệ tài chính và chính trị của họ với Chính phủ Mỹ thông qua Văn phòng Đại diện quyền lợi Mỹ ở La Habana.
20-3-2003: Máy bay Mỹ ném bom Baghdad. Bắt đầu cuộc chiến tranh Irắc.
4-2003: Một nhóm người cướp đoạt một chiếc tàu kéo để tìm cách chạy sang Mỹ một cách bất hợp pháp. Chúng bị bắt, bị xét xử và kết án. Ba tên trong số đó bị kết án tử hình.
13-5-2003: Washington trục xuất 14 nhà ngoại giao Cuba.
26-5-2003: Fidel Castro dự lễ nhậm chức của Tổng thống Nestor Kirchner ở Buenos Aires (Áchentina). Fidel có bài phát biểu trước hàng chục nghìn thanh niên tại trường đại học.
6-2003: Để trả đũa việc Cuba bắt giam những kẻ gọi là bất đồng chính kiến và xử bắn ba tên cướp đoạt tàu, các nước thuộc Liên minh châu Âu quyết định mời các phần tử chống đối Cuba và gia đình của chúng tới dự chiêu đãi của các đại sứ quán của những nước này ở La Habana nhân dịp Quốc khánh của họ. Chính phủ Cuba đáp lại bằng cách cô lập các cơ quan ngoại giao châu Âu ở La Habana đã thực hiện biện pháp nói trên, khiến các nhà ngoại giao châu Âu bị cắt đứt liên lạc.
14-6-2003: Chính quyền Cuba đóng cửa Trung tâm văn hoá Tây Ban Nha ở La Habana vì “đã xúi giục Liên minh châu Âu trừng phạt Cuba”.
18-6-2003: Hơn 8 triệu người Cuba ký vào bản Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp, với nội dung tuyên bố chủ nghĩa xã hội là “không thể thay đổi được”.
26-6-2003: Quốc hội bỏ phiếu thông qua điều sửa đổi Hiến pháp và tuyên bố chủ nghĩa xã hội là “không thể thay đổi được”.
16-9-2003: Bộ trưởng Ngoại giao Cuba, Felipe Pérez Roque lên án cuộc cấm vận kinh tế do Mỹ áp đặt chống Cuba trong bốn thập kỷ qua đã gây thiệt hại về kinh tế (lên tới 72 tỷ đôla) cho đến thời điểm này.
19-9-2003: Lần đầu tiên trong bốn thập kỷ, một người Cuba, do đã cướp một máy bay chở khách để tới Miami vào tháng 4 năm 2003, bị toà án Florida kết án 20 năm tù.
Từ 24 đến 27-9-2003: Tổng thống Braxin Luis Inacio Lula da Silva thăm Cuba và ký 12 hiệp định hợp tác.
10-10-2003: Phát biểu tại Florida, Tổng thống Bush hứa sẽ tăng cường sức ép chống Cuba, tuyên bố sẽ thành lập một “Ủy ban giúp đỡ cho một nước Cuba tự do”, do Ngoại trưởng Colin Powell đứng đầu, có nhiệm vụ “chuẩn bị bước quá độ dân chủ” ở Cuba và quyết định “tăng cường sự kiểm soát nhằm ngăn chặn những chuyến đi đã bị cấm” sang Cuba. Năm 2002, khoảng 230.000 người Mỹ đã sang thăm Cuba, trong đó có hơn 40.000 người đi bất hợp pháp có nguy cơ bị phạt tới 250.000 đôla.
10-2003: Sau khi cơn bão Michelle tàn phá nặng nề Cuba, Chính phủ Mỹ cho phép bán cho Cuba lương thực và các sản phẩm nông nghiệp khác với những quy định rất ngặt nghèo. Mặc dù lệnh cấm vận kinh tế được thực thi từ năm 1962, trên thực tế, Mỹ đã trở thành nhà cung cấp lớn nhất về lương thực và sản phẩm nông nghiệp cho Cuba.
1-1-2004: Cuba kỷ niệm lần thứ 45 ngày Cách mạng thắng lợi, bước vào một “Cuộc chiến tư tưởng” nhằm nâng cao trình độ văn hóa chung cho nhân dân, tiếp tục đấu tranh đòi bãi bỏ cấm vận kinh tế của Mỹ và hủy bỏ các luật di cư chống Cuba ở Mỹ, đồng thời với cuộc vận động đòi trả tự do cho năm điệp viên Cuba được tôn vinh là “những Anh hùng của nước Cộng hoà Cuba” bị kết án tù dài hạn ở Mỹ.
3-1-2004: Diễn văn của Fidel Castro trong Lễ kỷ niệm lần thứ 45 ngày Cách mạng thành công tại nhà hát Các Mác ở La Habana. Ông tố cáo dự án ALCA (Khu vực Thương mại tự do của các nước châu Mỹ) được Washington bảo vệ, coi đó là một “cuộc tấn công cuối cùng vào nền độc lập của Mỹ Latinh”.
21-1-2004: Đại Giáo chủ Bartolomé I, lãnh tụ tinh thần của 140 triệu tín đồ người Cơ đốc giáo chính thống, thăm Cuba.
29-1-2004: Fidel Castro tố cáo Tổng thống Mỹ Bush lên kế hoạch ám sát ông.
14-4-2004: Ở Mỹ, kênh truyền hình HBO phát bộ phim tài liệu “Looking for Fidel” (Tìm kiếm Fidel) của đạo diễn Oliver Stone, phiên bản thứ hai của bộ phim tài liệu “Vị Tư lệnh” phát vào tháng 2 năm 2002, nhưng lúc đó, kênh HBO đã từ chối phát bộ phim này vì cho rằng phim đó có lợi cho Cuba.
24-4-2004: Chánh án Mỹ James L.King kết án sáu người Cuba lưu vong hơn 20 năm tù vì tội cướp máy bay của Hãng Aerotaxi (Hãng máy bay du lịch của Cuba) ngày 19 tháng 3 năm 2003, sau khi máy bay cất cánh từ đảo Thanh niên Cuba.
29-4-2004: Trong một bản báo cáo của Bộ Ngoại giao, Washington tố cáo Cuba “có liên hệ với chủ nghĩa khủng bố quốc tế”.
4-2004: Khủng hoảng ngoại giao giữa Mêhicô và Cuba. Sau khi Mêhicô bỏ phiếu lên án Cuba tại Uỷ ban nhân quyền Liên hợp quốc, Fidel khẳng định rằng chính phủ của Tổng thống Vicente Fox phục tùng lợi ích của Mỹ, đã biến chính sách đối ngoại của Mêhicô thành “tro bụi”.
8-5-2004: Chính quyền Mỹ công bố một kế hoạch nhằm “thúc đẩy nhanh sự chuyển hóa sang dân chủ ở Cuba”, gồm có việc hạn chế những người Cuba sống ở Mỹ về thăm Cuba, siết chặt cấm vận kinh tế thương mại và dành 36 triệu đôla tài trợ cho các nhóm đối lập trong nội địa Cuba.
14-5-2004: Ở La Habana, trước hàng trăm nghìn người biểu tình chống hành động của Washington, Fidel Castro đọc “Bức thư đầu tiên của ông gửi George Bush”.
18-5-2004: Cuba tổ chức một cuộc gặp mặt tại La Habana với các nhà lãnh đạo có thái độ ôn hòa đang sống lưu vong.
10-6-2004: Chính quyền Cuba thả 5 người chống đối đã bị kết án vào tháng 4 năm 2003. Những người khác sẽ được trả tự do sau này.
21-6-2004: Trong bài diễn văn trước hơn một triệu người, Fidel Castro đọc “Bức thư thứ hai gửi George Bush” và tuyên bố biện pháp trừng phạt mới của Mỹ (chống Cuba - ND) có thể gây ra cuộc khủng hoảng nghiêm trọng mới về di cư, thậm chí là một cuộc chiến tranh.
7-2004: Những biện pháp mà Chính phủ Mỹ thông qua vào tháng 2 nhằm “xóa bỏ chế độ Cuba” bắt đầu có hiệu lực. Hạn chế những người Cuba lưu vong ba năm mới được về thăm Cuba một lần trong 14 ngày và chỉ được thăm thân nhân trực hệ; khoản tiền mặt được mang theo giảm từ 3.000 xuống còn 300 đôla; chi tiêu hàng ngày giảm từ 164 xuống còn 50 đôla; trọng lượng hành lý trước đây không hạn chế, nay chỉ còn 27kg; tiền gửi về cho gia đình hàng năm bây giờ tối đa là 1.200 đôla và chỉ được gửi cho thân nhân trực hệ. Số kiều hối từ Mỹ gửi về Cuba và thăm thân nhân của 1,3 triệu người Cuba lưu vong hoặc di cư tại Mỹ đã từng lên tới khoảng 1,2 tỷ đôla mỗi năm.
17-7-2004: Trong một bài phát biểu tranh cử ở Florida, Tổng thống Bush tố cáo Fidel đã biến Cuba thành “một bến cảng chính của ngành du lịch tình dục”.
26-7-2004: Tại Santa Clara, trong lễ kỷ niệm lần thứ 51 trận tấn công Moncada, để đáp lại lời tố cáo của Tổng thống Mỹ cho rằng Cuba xúc tiến du lịch tình dục, Fidel liên hệ chủ nghĩa cực đoan tôn giáo mà Bush đang theo đuổi chẳng qua chỉ là một kiểu nghiện rượu.
15-8-2004: Ở Vênêxuêla, Tổng thống Hugo Chávez giành chiến thắng trong cuộc trưng cầu ý dân với 58,25% số phiếu ủng hộ và củng cố thêm quyền lực của mình. Hơn 10.000 thanh niên Vênêxuêla đã đến Cuba trong khuôn khổ của Kế hoạch Hy vọng để tham gia các khóa học trong vòng 45 ngày, nhằm đào tạo thành những người làm công tác xã hội. Khi về nước, những thanh niên này sẽ tham gia Mặt trận Francisco de Miranda, một tổ chức đóng vai trò chủ chốt trong việc đăng ký cử tri trước thềm cuộc trưng cầu ý dân.
26-8-2004: Cuba cắt quan hệ ngoại giao với Panama vì quyết định của bà Tổng thống sắp mãn nhiệm Mireya Moscoso ân xá cho Luis Posada Carriles và ba tên tòng phạm với hắn đã bị buộc tội tham gia nhiều vụ khủng bố và bị kết án với tội danh vạch kế hoạch ám sát Fidel Castro.
Từ 10 đến 13-9-2004: Hàng trăm nghìn người được sơ tán để phòng cơn bão Iván, cơn bão lớn nhất trong vòng 50 năm qua. Trên truyền hình, người ta thấy Fidel tham gia công tác tổ chức phòng vệ dân sự. Cuối cùng, cơn bão Iván chuyển hướng, không đi qua Cuba, trừ mũi cực Tây, nhưng không gây thiệt hại nào.
30-9-2004: Chính phủ Cuba thông qua các biện pháp nghiêm ngặt nhằm tiết kiệm điện, sau khi nhà máy nhiệt điện chính của đất nước bị hỏng. 118 xí nghiệp cùng với 40 khách sạn ở La Habana và Varadero phải đóng cửa.
20-10-2004: Fidel bị vỡ xương đầu gối chân trái và bị rạn xương cánh tay phải vì trượt ngã sau khi kết thúc bài diễn văn trong cuộc mít tinh trước Lăng Che Guevara ở Santa Clara. Ít phút sau, Fidel lại xuất hiện trên truyền hình, ngồi trên ghế và trực tiếp thông báo rằng ông đã bị vỡ đầu gối và bị thương một cánh tay “để tránh có những suy đoán”.
26-10-2004: Fidel lại xuất hiện trên truyền hình ở tư thế ngồi và cánh tay phải đeo băng để thông báo việc chấm dứt tình trạng “đôla hoá” nền kinh tế Cuba. Từ ngày 8 tháng 11, đồng đôla Mỹ sẽ không còn được lưu hành ở tất cả các khách sạn, trung tâm thương mại hoặc cửa hàng của Cuba. Đôla sẽ được thay thế bằng đồng peso chuyển đổi, đồng tiền chỉ có giá trị duy nhất ở Cuba.
16-11-2004: Liên minh châu Âu thừa nhận rằng việc cắt đứt đối thoại với Cuba “là không hiệu quả”.
23-11-2004: Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào thăm Cuba. Các thỏa thuận được ký kết trị giá hơn 500 triệu đôla thuộc các dự án đầu tư vào ngành công nghiệp niken, các khoản tín dụng cho ngành giáo dục, y tế và mua một triệu chiếc tivi của Trung Quốc.
25-11-2004: Sau hơn một năm ngừng tiếp xúc, Cuba bình thường hoá quan hệ với Tây Ban Nha.
13-12-2004: Cuba tiến hành cuộc diễn tập khổng lồ trên phạm vi cả nước mang tên “Thành trì 2004”, với sự tham gia của 10 vạn binh lính và hàng trăm xe tăng, nhằm đáp trả “các cuộc xâm lược và đe dọa liên tục của Mỹ”.
14-12-2004: Tại La Habana, Fidel Castro và Hugo Chávez ký một hiệp định hợp tác, mở rộng các quan hệ vốn có giữa Cuba và Vênêxuêla. Hiệp định này quy định việc xóa bỏ hàng rào thuế quan đối với hàng hoá nhập khẩu giữa hai nước, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, bán dầu với “giá thấp nhất là 27 đôla/thùng”, và Vênêxuêla hỗ trợ tài chính cho các dự án thuộc ngành năng lượng và công nghiệp điện của Cuba. Tất cả điều đó là thực hiện tinh thần của ALBA (Sự lựa chọn theo tư tưởng Bolívar của các nước châu Mỹ) do Tổng thống Vênêxuêla thúc đẩy nhằm làm đối trọng với dự án ALCA (Khu vực Thương mại tự do của các nước châu Mỹ) do Mỹ hậu thuẫn.
16-12-2004: Fidel Castro họp mặt ở La Habana với hơn 300 doanh nghiệp Mỹ, đa số là chủ trang trại và các nhà sản xuất nông nghiệp.
26-12-2004: Fidel Castro thông báo Công ty Sherritt-Peberco của Canada phát hiện một mỏ dầu mới ở bờ biển phía bắc gần La Habana, với trữ lượng có thể khai thác được là 100 triệu thùng dầu thô loại trung bình nặng.
3-1-2005: Cuba khôi phục các cuộc tiếp xúc chính thức với tám nước thuộc Liên minh châu Âu: Đức, Áo, Pháp, Hy Lạp, Italia, Bồ Đào Nha, Anh và Thụy Điển. Vài ngày sau, Cuba bình thường hoá quan hệ ngoại giao với tất cả các nước trong Liên minh châu Âu.
13-1-2005: Trong một bài đăng trên tờ The New York Times, cây bút bình luận Nicholas D.Kristof khẳng định rằng: “Nếu nước Mỹ đạt được tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh như Cuba thì mỗi năm sẽ cứu sống được 2.212 trẻ em Mỹ”.
15-1-2005: Toà án tối cao Mỹ tuyên bố là bất hợp pháp việc giam giữ hơn 700 người Cuba, mặc dù đã hết hạn tù, nhưng theo luật pháp, vẫn bị giam giữ vô thời hạn vì Cuba không chấp nhận việc trả họ về nước. Đa số những người Cuba này đã đến bờ biển của bang Florida năm 1980, thông qua cầu hàng hải Mariel.
8-3-2005: Trong bài diễn văn nhân ngày Quốc tế phụ nữ, Fidel Castro tuyên bố Cuba sắp đạt tới vị thế “không thể bị bất ổn về kinh tế”; đảm bảo năm 2006 sẽ giải quyết được vấn đề thiếu hụt năng lượng, việc xây dựng nhà ở sẽ tăng gấp đôi và sẽ cải tiến các phương tiện tàu hỏa và xe buýt liên tỉnh. Ông cũng tuyên bố sắp tới sẽ có 5 triệu nồi áp suất được phân phối.
17-3-2005: Fidel Castro tuyên bố định giá lại, tăng 7% giá trị đồng peso do nền kinh tế Cuba “đang được vận hành cực tốt”.
2-4-2005: Giáo hoàng Giăng Pôn II qua đời tại Vaticăng
13-4-2005: Fidel Castro tố cáo Mỹ cho phép Luis Posada Carriles tị nạn, tên khủng bố người Cuba này đã bị buộc tội làm nổ tung một máy bay của Hãng hàng không Cuba, làm chết 70 người.
14-4-2005: Tại Giơnevơ, Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, trước áp lực mạnh mẽ và các thủ đoạn của Mỹ, đã bỏ phiếu thuận với tỷ lệ sít sao một nghị quyết lên án Cuba.
19-4-2005: Tại Vaticăng, Hồng y Josept Ratzinger, Tổng Giám mục Giáo hội La Mã theo giáo lý niềm tin và là Chủ tịch Hội đồng Hồng y, được bầu làm Giáo hoàng, lấy hiệu là Benedicto XVI.
21-4-2005: Trong một lần xuất hiện trên truyền hình, Fidel tuyên bố sẽ không bán những bóng đèn chiếu sáng truyền thống để tiết kiệm điện. Ông yêu cầu người dân Cuba cần có “một chút kiên nhẫn” và tuyên bố tình trạng cắt điện sẽ chấm dứt vào sáu tháng cuối năm 2006.
28-4-2005: Tại La Habana, Hugo Chávez và Fidel Castro cùng dự cuộc gặp gỡ Tây bán cầu lần thứ IV đấu tranh chống lại chủ trương “Khu vực Thương mại tự do của các nước châu Mỹ”.
17-5-2005: Hơn một triệu người Cuba, với Fidel Castro dẫn đầu, tuần hành ở La Habana để tố cáo sự tráo trở trong chính sách chống khủng bố của Bush, che chở cho Luis Posada Carriles, tội phạm của những vụ tấn công dân thường Cuba. Nhà cầm quyền Mỹ đã bắt giam tên khủng bố này ngay trong hôm đó với tội danh nhập cảnh trái phép.
29-6-2005: Fidel Castro cùng Tổng thống Hugo Chávez tham dự cuộc gặp đầu tiên của những người đứng đầu nhà nước và chính phủ vùng Caribê, bàn về liên doanh dầu mỏ Caribê (Petro - Caribe) diễn ra ở Puerto la Cruz (Vênêxuêla) để tiến hành liên kết năng lượng trong khu vực.
24-7-2005: Tại Caracas, kênh truyền hình Mỹ Latinh Telesur khai trương, đây là một dự án hợp tác của các nước Vênêxuêla, Cuba, Áchentina, Urugoay và Braxin.
26-7-2005: Trong các buổi lễ kỷ niệm lần thứ 52 cuộc tấn công trại lính Moncada, Fidel Castro gọi những người bất đồng chính kiến và những người chống đối là “bọn phản bội” và “lính đánh thuê”. Ông tuyên bố rằng Văn phòng Đại diện quyền lợi của Mỹ (SINA) ở La Habana là kẻ xúi ...giục chính các nhóm chống đối và các hoạt động của họ “mang tính khiêu khích”.
28-7-2005: Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice bổ nhiệm Caleb McCarry làm điều phối viên đầu tiên “của chiến dịch quá độ ở Cuba” với mục đích “đẩy nhanh sự kết thúc của chế độ độc tài” ở Cuba.
9-8-2005: Một tòa án Mỹ có trụ sở ở Atlanta đã phán quyết mở phiên xử mới đối với năm người Cuba (Gerardo Hernández, Fernando González, Ramón Labañino, René González và Antonio Guerrero) từng bị án tù nặng năm 2001 vì tội danh hoạt động gián điệp. Fidel Castro đánh giá quyết định này là “thắng lợi về pháp lý” trong cuộc chiến nhằm giải thoát cho năm người.
20-8-2005: Fidel Castro và Hugo Chávez, cùng với những người đứng đầu nhà nước khác ở Mỹ Latinh và Caribê chủ trì lễ tốt nghiệp chuyên ngành bác sĩ của 1.610 sinh viên Trường Đại học Y Mỹ Latinh (ELAM) được tổ chức tại Nhà hát Các Mác ở La Habana. Trường được thành lập năm 1998 và có hơn một vạn thanh niên của 28 nước Mỹ Latinh và Caribê theo học miễn phí. Ngày 20 tháng 8 năm 2005, với sự hiện diện của Tổng thống Martín Torrijos tại La Habana, Cuba và Panama tuyên bố nối lại quan hệ ngoại giao.
3-9-2005: Sau thảm họa về người do cơn bão Katrina gây ra ở New Orleans và Lousiana (Mỹ), Fidel Castro đề xuất cử 1.100 bác sĩ chuyên khoa sang vùng bị nạn tham gia cứu trợ khẩn cấp về y tế. Tuy nhiên, Chính phủ Mỹ không hưởng ứng lời đề nghị của Cuba.
15-9-2005: James Cason thôi chức Trưởng Văn phòng Đại diện quyền lợi Mỹ ở La Habana. Nhà ngoại giao Michael Parmly lên thay thế ông.
28-9-2005: Cơ quan Tư pháp Mỹ xác định rằng Luis Posáda Carriles, 77 tuổi, cựu điệp viên CIA, đã trốn khỏi một nhà tù ở Vênêxuêla năm 1985 khi sắp bị đưa ra xét xử về tội đã làm nổ tung một máy bay Cuba chở 73 người năm 1976 và là kẻ đã nhập cảnh trái phép vào Mỹ, sẽ không bị dẫn độ sang Vênêxuêla hoặc Cuba, vì Mỹ cho rằng hắn “có thể bị tra tấn ở các nước đó”.
Từ 14 đến 15-10-2005: Hội nghị Thượng đỉnh Iberoamericana họp ở Salamanca, Tây Ban Nha. Fidel không tham dự. Những người đứng đầu nhà nước của nhóm Iberoamericana lên án lệnh cấm vận Cuba và đòi chính quyền Mỹ đưa ra xét xử tên khủng bố Luis Posada Carriles.
15-10-2005: Tại La Habana, những thanh niên làm công tác xã hội nắm quyền quản lý các trạm xăng trong thành phố, một phần của chiến dịch chống tham nhũng.
22-10-2005: Sự đe dọa của cơn bão Wilma buộc nửa triệu người ở Cuba phải sơ tán. Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) thừa nhận tính hiệu quả của hệ thống cảnh báo sớm thiên tai của Cuba, và ca ngợi “hiệu quả cao” của Cuba trong việc giảm nhẹ những thiệt hại về người và kinh tế do thiên tai.
24-10-2005: Cơn bão Wilma gây lụt lội nghiêm trọng ở La Habana.
28-10-2005: Trong một bài diễn văn, Fidel Castro phê phán những “người giàu mới nổi” và phát động một chiến dịch chống việc làm giàu bất chính, tệ “thu vén cá nhân” của một số cán bộ lãnh đạo, nạn tham nhũng và tham ô tài sản của nhà nước.
Từ 4 đến 5-11-2005: Hội nghị Thượng đỉnh các nước châu Mỹ họp tại thành phố Mar del Plata, Áchentina không thông qua đề xuất thiết lập một Khu vực Thương mại tự do của các nước châu Mỹ (ALCA) do Tổng thống George W. Bush khởi xướng với ý đồ củng cố quyền bá chủ kinh tế của Mỹ ở Tây bán cầu.
7-11-2005: Công bố kết quả điều tra dân số năm 2002, theo đó, số dân Cuba trong năm đó đã lên tới 11.177.743 người.
8-11-2005: Lần thứ 14 liên tiếp, Liên hợp quốc thông qua nghị quyết lên án sự cấm vận của Mỹ chống Cuba. Lần này, có 182 nước bỏ phiếu ủng hộ, chỉ có bốn nước Mỹ, Ixraen, quần đảo Marshall và Palau bỏ phiếu chống.
17-11-2005: Trong một bài diễn văn quan trọng kéo dài năm tiếng đồng hồ, Fidel Castro khẳng định rằng nạn tham nhũng và hành vi tham ô tài sản của nhà nước gây nguy hiểm cho Cách mạng, đồng thời thông báo sẽ triển khai một cuộc tiến công trực diện chống tham nhũng.
23-11-2005: Cuba đón vị khách du lịch thứ 2 triệu, gần đạt kế hoạch đón 2,3 triệu du khách trong năm 2005, con số cao nhất trong lịch sử.
7-12-2005: Đội y tế Cuba thuộc Đội quân chống thiên tai Henry Reeve đã trở về Cuba, sau khi giúp đỡ các cộng đồng nông dân vùng cao nguyên ở Goatêmala bị cơn bão Stan hoành hành vào tháng 10.
8-12-2005: Fidel Castro dự Hội nghị Thượng đỉnh Cuba - CARICOM (Cộng đồng kinh tế Caribê) họp tại Bridgetown, Bácbađốt.
12-12-2005: Cuba và bang Virginia của Mỹ ký một thoả thuận về bán nông sản và lương thực cho Cuba trị giá 30 triệu đôla trong vòng 18 tháng sau đó.
14-12-2005: Văn phòng quản lý vốn nước ngoài thuộc Bộ Tài chính Mỹ thông báo sẽ không cho phép đội bóng chày của Cuba vào nước Mỹ để thi đấu giải bóng chày truyền thống thế giới. Quyết định này bị rút lại sau khi vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của quốc tế.
16-12-2005: Cuộc “đối thoại hoà bình” giữa phong trào du kích “Quân đội giải phóng dân tộc” (ELN) Côlômbia và Đại diện chính phủ của Tổng thống Álvaro Uribe khởi đầu ở La Habana với sự có mặt của nhà văn Gabriel García Márquez.
18-12-2005: Tại La Paz, Bôlivia, ông Evo Morales, lãnh tụ của Phong trào hướng tới chủ nghĩa xã hội (MAS) trúng cử tổng thống.
20-12-2005: Chương trình thường lệ Bàn tròn được truyền tải trên đài phát thanh và truyền hình Cuba, lên án các hoạt động của những người gọi là bất đồng chính kiến và những tuyên bố của Michael Parmly, thủ trưởng mới của Văn phòng Đại diện quyền lợi Mỹ (SINA) ở La Habana, coi đó là “những hành động mang tính khiêu khích và vô liêm sỉ”.
30-12-2005: Tại La Habana, Fidel Castro đón Evo Morales, tổng thống mới đắc cử của Bôlivia, với nghi thức dành cho nguyên thủ quốc gia. Hai nhà lãnh đạo đã ký những hiệp định hợp tác quan trọng.
31-12-2005: Các nhà đương cục Cuba căn cứ vào con số ước tính của Chính phủ, tuyên bố rằng cuối năm 2005, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Cuba đạt 11,8%, trong đó bao gồm cả giá trị của các ngành dịch vụ xã hội. Đây là con số cao nhất đạt được của Cuba trong 46 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo đề xuất của Fidel Castro, Quốc hội Cuba đặt tên cho năm tới là “Năm Cách mạng năng lượng ở Cuba”, chú trọng việc thực thi chương trình rộng lớn trong cả nước, nhằm giải quyết dứt điểm sự thiếu hụt về điện và vấn đề tiết kiệm điện.