Dưới đây là một số phát biểu nổi bật của ông, được sắp xếp theo trình tự thời gian và bối cảnh lịch sử:
1. Ngày 02/12/1960 (Thời điểm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam, Cuba): “Mối quan hệ giữa Cuba và Việt Nam là một biểu tượng của thời đại, sự kết nối giữa hai dân tộc cùng chung lý tưởng tự do và giải phóng, chúng ta không chỉ chia sẻ những khát vọng chung mà còn sẵn sàng cùng nhau vượt qua mọi thử thách để bảo vệ chủ quyền dân tộc, sự gắn kết này sẽ trở thành một phần không thể tách rời trong dòng chảy lịch sử của cả hai đất nước.” (Nguồn: Diễn văn tại lễ ký kết thiết lập quan hệ ngoại giao, lưu trữ tại Bộ ngoại giao Cuba và báo Granma).
2. Ngày 18/10/1962 (Trong cuộc khủng hoảng tên lửa tại Cuba): “Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ngay cả khi đang phải đối mặt với những thử thách nghiệt ngã nhất đối với sự tồn vong của chính mình, chúng tôi cũng không bao giờ quên cuộc đấu tranh của anh em Việt Nam, bởi sự an nguy và danh dự của Cuba luôn gắn liền với sự ủng hộ dành cho các dân tộc đang kiên cường chiến đấu vì độc lập.” (Nguồn: Phát biểu của Fidel Castro tại La Habana, trích trong sách "Fidel Castro và Việt Nam", Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sự thật).
3. Ngày 02/01/1966 (Tại Quảng trường Cách mạng Jose Marti, La Habana): “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình! Chúng tôi không chỉ sẵn sàng gửi đi những giọt máu của mình mà còn sẵn sàng gửi đi cả những tình cảm chân thành nhất, sự ủng hộ vô điều kiện nhất của nhân dân Cuba dành cho cuộc đấu tranh chính nghĩa, anh dũng của các bạn.” (Nguồn: Diễn văn kỷ niệm 7 năm cách mạng Cuba thắng lợi, Thông tấn xã Cuba Prensa Latina).
4. Tháng 01/1966 (Tại Hội nghị Đoàn kết ba châu Á, Phi, Mỹ Latinh): “Đoàn kết với Việt Nam không phải là sự ủng hộ một dân tộc đơn thuần, mà là nghĩa vụ quốc tế của toàn nhân loại tiến bộ, bởi cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chính là ngọn cờ đầu, là biểu tượng kiêu hãnh cho cuộc đấu tranh của tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới hiện nay.” (Nguồn: Diễn văn bế mạc Hội nghị Đoàn kết ba châu, văn kiện lưu trữ Ban đối ngoại trung ương).
5. Tháng 06/1967 (Phát biểu tại thủ đô La Habana): “Việt Nam là tấm gương sáng ngời cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh vì độc lập và tự do, mỗi chiến thắng của các bạn là một nguồn động viên to lớn, tiếp thêm sức mạnh cho những người cộng sản và những người yêu chuộng hòa bình trên khắp hành cầu.” (Nguồn: Tiếp đoàn đại biểu Chính phủ dân chủ cộng hòa Việt Nam, báo Nhân dân).
6. Tháng 03/1968 (Nhận định về ý nghĩa chiến lược của Tết Mậu Thân): “Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân là một kỳ tích quân sự vô song của nhân dân Việt Nam, nó đã chứng minh một chân lý thời đại rằng không một sức mạnh bạo tàn nào, không một vũ khí tối tân nào có thể khuất phục được một dân tộc đã quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do và chủ quyền dân tộc.” (Nguồn: Bài phát biểu trên Đài phát thanh và Truyền hình Cuba, tháng 03/1968).
7. Tháng 05/1968 (Phân tích về cục diện sau chiến thắng Mậu Thân): “Chiến thắng Mậu Thân đã tạo ra một cục diện không thể đảo ngược trên chiến trường, đòn giáng mạnh mẽ này đã buộc đối phương phải đối mặt với thực tế thất bại không thể tránh khỏi và mở ra một giai đoạn mới, tạo tiền đề quyết định cho sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.” (Nguồn: Văn kiện "Quan hệ Việt Nam, Cuba qua những cột mốc lịch sử", Viện lịch sử Đảng).
8. Ngày 04/09/1969 (Điếu văn tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại La Habana): “Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc về một lớp người đặc biệt mà cái chết lại gieo mầm cho sự sống, Người đã ra đi nhưng di sản của Người về lòng dũng cảm, đức khiêm tốn và tinh thần kiên cường sẽ mãi mãi là kim chỉ nam, là nguồn cảm hứng cho tất cả chúng ta trong sự nghiệp cách mạng và bảo vệ nhân phẩm con người.” (Nguồn: Điếu văn của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Cuba, báo Granma số ra ngày 05/09/1969).
9. Tháng 05/1972 (Phản đối đế quốc Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam): “Trong thời đại ngày nay, không có sự nghiệp nào cao cả hơn, không có nhiệm vụ nào cấp bách hơn là ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, nhân dân Cuba coi mỗi tấc đất của Việt Nam bị xâm phạm cũng như chính lãnh thổ của mình bị tấn công.” (Nguồn: Tuyên bố chung của Chính phủ Cuba, lưu trữ tại Thông tấn xã Việt Nam).
10. Tháng 03/1972 (Tiếp đoàn đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam): “Việt Nam đã chứng minh rằng sức mạnh của con người là vô hạn khi họ chiến đấu vì chính nghĩa, đó là một thứ vũ khí mà không một phòng thí nghiệm hiện đại nào của đế quốc có thể chế tạo ra được, sức mạnh đó bắt nguồn từ tình yêu quê hương và niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng.” (Nguồn: Diễn văn tiệc chiêu đãi đoàn đại biểu miền Nam Việt Nam tại Cuba).
11. Ngày 16/09/1973 (Tại cao điểm 241, vùng giải phóng Quảng Trị): “Các bạn phải thắng, và các bạn sẽ thắng, bởi vì các bạn có chính nghĩa, các bạn có lòng dũng cảm vô song và các bạn có một vị lãnh tụ vĩ đại như Hồ Chí Minh luôn soi đường chỉ lối cho cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc.” (Nguồn: Ghi chép của các phóng viên chiến trường và nhân chứng lịch sử tại Quảng Trị).
12. Ngày 17/09/1973 (Phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân Quảng Bình): “Tôi đã đi thăm nhiều nơi, nhưng không có nơi nào làm tôi xúc động bằng chuyến thăm Việt Nam lần này, dù Việt Nam còn nghèo về vật chất nhưng tâm hồn và ý chí của các bạn là vô giá, một dân tộc như thế này chắc chắn sẽ chiến thắng và sẽ xây dựng lại đất nước mười lần đẹp hơn.” (Nguồn: Diễn văn tại sân vận động Đồng Hới, báo Nhân dân số ra ngày 18/09/1973).
13. Năm 1973 (Nói về sự sẻ chia nguồn lực của Cuba dành cho Việt Nam): “Sự giúp đỡ của Cuba dành cho Việt Nam không phải là từ sự dư thừa, mà là sự sẻ chia từ những gì chúng tôi có, bởi vì đối với chúng tôi, giúp đỡ Việt Nam chính là giúp đỡ chính mình, là nghĩa vụ cao cả của những người anh em cùng chung chiến hào.” (Nguồn: Lời khẳng định của Fidel Castro khi quyết định tặng Việt Nam 5 công trình kinh tế, xã hội trọng điểm).
14. Tháng 05/1975 (Chào mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng): “Chiến thắng của Việt Nam là chiến thắng của tất cả các dân tộc trên thế giới đang đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc, đây là một cột mốc rực rỡ trong lịch sử nhân loại, chứng minh rằng không gì có thể ngăn cản được khát vọng tự do của một dân tộc kiên cường.” (Nguồn: Điện mừng gửi lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, báo Granma).
15. Tháng 08/1976 (Tại Hội nghị Thượng đỉnh Phong trào Không liên kết Colombo): “Việc ngăn cản một quốc gia anh hùng đã hy sinh biết bao xương máu cho độc lập dân tộc như Việt Nam có mặt tại Liên hợp quốc là một sự xúc phạm đến công lý quốc tế, là hành động không thể chấp nhận được đối với lương tri của nhân loại.” (Nguồn: Biên bản Hội nghị Thượng đỉnh Không liên kết lần thứ 5).
16. Ngày 20/09/1977 (Tại La Habana mừng Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc): “Việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Liên hợp quốc không chỉ là chiến thắng của nhân dân Việt Nam mà còn là thất bại của chính sách bao vây, cấm vận phi nghĩa, đó là sự thừa nhận xứng đáng đối với những đóng góp to lớn của Việt Nam cho hòa bình thế giới.” (Nguồn: Tuyên bố của Chính phủ Cuba ngày 20/09/1977).
17. Tháng 12/1978 (Bảo vệ Việt Nam về vấn đề Campuchia): “Việt Nam có quyền tự vệ chính đáng chống lại sự diệt chủng và những hành động xâm lược của tập đoàn Pol Pot để bảo vệ chủ quyền biên giới, đồng thời hồi sinh một dân tộc láng giềng đang đứng trước họa diệt vong, đó là hành động mang tính nhân đạo cao cả và chính danh.” (Nguồn: Nghị quyết Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Cuba, văn kiện ngoại giao song phương).
18. Tháng 02/1979 (Tuyên bố phản đối chiến tranh xâm lược biên giới phía Bắc): “Mưu đồ khuất phục dân tộc Việt Nam bằng vũ lực là một sai lầm lịch sử của những kẻ bành trướng, thế giới không thể im lặng trước hành động xâm lược phi nghĩa này và nhân dân Cuba sẽ luôn sát cánh cùng Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng.” (Nguồn: Tuyên bố khẩn cấp của Chính phủ Cuba, ngày 18/02/1979).
19. Ngày 03/03/1979 (Tại cuộc mít tinh khổng lồ ở La Habana ủng hộ Việt Nam): “Nhân dân thế giới hãy đứng về phía Việt Nam như đã từng đứng về phía Việt Nam trong cuộc chiến chống đế quốc Mỹ, bởi vì Việt Nam chính là tiền đồn bảo vệ công lý, hòa bình và nhân phẩm cho cả thế giới trong giai đoạn hiện nay.” (Nguồn: Diễn văn tại Quảng trường Cách mạng Jose Marti, báo Granma).
20. Tháng 09/1979 (Trên cương vị Chủ tịch Phong trào Không liên kết tại Thượng đỉnh lần thứ 6): “Tính chính nghĩa của quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia là không thể phủ nhận, đó là hành động cứu rỗi nhân đạo khỏi một chế độ tàn bạo nhất trong lịch sử, Việt Nam đã thực hiện nghĩa vụ quốc tế của mình với một tinh thần vô tư và dũng cảm.” (Nguồn: Diễn văn khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh Không liên kết lần thứ 6).
21. Năm 1982 (Thông điệp gửi Hội nghị cấp cao Phong trào Không liên kết): “Việt Nam không bao giờ là mối đe dọa đối với bất kỳ ai, ngược lại, sự ổn định và phát triển của Việt Nam chính là hòn đá tảng cho hòa bình và an ninh tại Đông Nam Á, nhân dân thế giới cần phải ủng hộ nỗ lực xây dựng lại đất nước của nhân dân Việt Nam.” (Nguồn: Thông điệp gửi Hội nghị cấp cao Không liên kết tại New Delhi, tháng 02/1982).
22. Tháng 12/1995 (Phát biểu tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội): “Tôi tin tưởng tuyệt đối vào sự tất thắng của công cuộc Đổi mới tại Việt Nam, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, Việt Nam nhất định sẽ trở thành một quốc gia mười lần đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn và nhân dân Cuba sẽ luôn là người bạn đồng hành tin cậy trên con đường phát triển.” (Nguồn: Diễn văn trước Quốc hội Việt Nam, lưu trữ tại Thư viện Quốc gia).
23. Năm 2003 (Phát biểu trong chuyến thăm chính thức Việt Nam lần thứ ba): “Những gì tôi thấy ở Việt Nam hôm nay là một bài học lớn về sự tự cường và trí tuệ dân tộc, các bạn đã thắng trong chiến tranh và đang tiếp tục thắng trong cuộc chiến chống nghèo nàn, lạc hậu để vươn mình trở thành một quốc gia phát triển, khẳng định vị thế xứng đáng trong bối cảnh hiện nay.” (Nguồn: Diễn văn tại Văn phòng Trung ương Đảng, tháng 02/2003).
24. Giai đoạn gần đây (Trích loạt bài viết ‘Suy ngẫm’ – Reflexiones): “Mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba là mối quan hệ đặc biệt, không có tiền lệ trong lịch sử quốc tế, sự gắn bó này đã được thử thách qua lửa đạn, qua thời gian và sẽ mãi mãi là tài sản quý báu vĩnh cửu mà các thế hệ mai sau phải có trách nhiệm giữ gìn và phát huy.” (Nguồn: Chuyên mục Suy ngẫm của Fidel Castro, báo Granma).